Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

Chuyến tàu nổi loạn

lamtruyen.com
Truyện ngắn
tiếng la ó trong bóng tối. "Ô là la ! Ma quỉ bắt mày !". Gã kiểm soát viên chẳng đếm xỉa gì và gã tiếp tục đi lần sang toa khác.
Đoàn tàu vẫn chạy đều, thỉnh thoảng có tiếng bánh rít trên đường sắt, các toa va vào nhau lịch kịch, đôi lúc gia tăng tốc độ như muốn kéo nhanh tới. Hành khách không lợi dụng bóng tối để ngồi im hoặc ngủ, trái lại họ nói chuyện ồn ào, múa tay đúng phong cách người Braxin. Có người còn cất tiếng hát vang, có người huýt còi miệng. Những người đàn bà cố thu mình trong góc toa xe đề phòng đám đông đàn Chuyến tàu nhỏ đón công nhân ở lò thịt Ma-ga-ri đang hì hà hì hục chạy về Bơ-lem. Đêm đã xuống. Trên tàu phảng phất mùi tanh của máu. Người ta không thể thấy rõ những vết dơ trên áo của hành khách bởi vì chuyến tàu lầm lũi chạy trong bóng tối, không có một chút ánh sáng. Thỉnh thoảng một vài tia sáng lóe lên ở ống khói đầu tàu. Các toa chở khách cũng tối như bưng, không một ánh đèn nhỏ.
Thật kì cục. Từ bên ngoài đến bên trong đoàn tàu đều tối đen. Mặc dù vậy, người kiểm soát viên vẫn đi lần qua các toa xe, hỏi vé và bấm vé bằng ánh sáng của điếu thuốc nơi miệng gã. Gã đưa tấm vé lên gần điếu thuốc, rít một hơi cho lửa lóe lên rồi đưa kìm bấm. Nếu có tấm vé đáng nghi ngờ gì đó, gã đút ngay vào cái túi xách mang trên vai. Nhiều ông thiếu lễ độ.
Đúng là một đêm không trăng không sao. Một vài que diêm bật lên, soi sáng một vài khuôn mặt rồi bóng tối lại bao trùm. Không ai tỏ vẻ ngạc nhiên, thắc mắc gì về chuyến tàu này. Hằng ngày, hằng đêm nó vẫn chạy đều như vậy. Những công nhân làm việc ở lò thịt Ma-ga-ri vẫn cư trú quanh đó. Chuyến tàu Ma-ga-ri đi Bơ-lem cũng là một chuyến tàu chở hàng.
ở toa thứ hai, băng ghế gần sau cùng, có một người mù, mang cặp kính xanh đen. Người mù này ở Ba-hi-a trên bờ sông Bai-xo. Gã là một nhạc công thổi sáo chuyên nghiệp và gã đang trên đường đến Bờ-ra-gang-xa để dự một buổi hòa nhạc. Một thanh niên tóc đỏ dẫn đường cho gã, ngồi bên cạnh cứ ngáp vặt và khạc nhổ từng chặp.
Gã mù Ba-hi-a có vẻ vui tươi. Gã hích cùi chỏ vào hông thanh niên dẫn đường và bắt đầu tán chuyện. Những câu đàm thoại trống rỗng, lạnh lùng vì gã chẳng thấy một tí gì ở bên ngoài. Rồi gã lại huýt sáo, một điệu "valse", càng lúc càng lên cao và trầm xuống... rồi một khúc "polka", một đoạn trong bản "trovatore". Lát sau, gã im lặng.
Bỗng nhiên gã hỏi thanh niên dẫn đường:
- Báo chí không nói gì về chính quyền mới thay thế à ?
- Tôi chẳng biết gì cả. Chúng tôi đang ngồi trong bóng tối mà !
- Trong bóng tối ?
- Vâng.
Gã mù im lặng và suy nghĩ. Gã không thây ánh sáng cho nên gã không hiểu những gì đang diễn ra. Gã lại hỏi:
- Không có một tí ánh sáng nào cả ư ?
Lại có tiếng ngáp. "Không, không có !". Lại tiếng khạc nhổ. Gã mù suy nghĩ rồi lại hỏi:
- Toa tàu chạy trong bóng tối ?
- Đúng vậy.
Một nỗi phẫn uất dâng lên trong người gã mù, gã nện mạnh chiếc gậy xuống sàn xe và la lớn:
- Thật không thể tha thứ được. Công ty hỏa xa của chính quyền xem chúng ta như những tên vô lại. Tại sao họ cho chúng ta đi trong bóng tối ? Con người không thể sống không có ánh sáng ! ánh sáng rất cần thiết ! ánh sáng là tặng phẩm cao nhất của thiên nhiên cho con người. Phải có ánh sáng ! ánh sáng ! ánh sáng !
Sau những tiếng gào của gã mù, chuyến tàu vẫn ì ạch chạy đều trong bóng tối. Vẫn không có ánh sáng. Gã mù vẫn tiếp tục gào lên:
- ánh sáng ! ánh sáng !
Nhưng chỉ có bóng tối trả lời gã. Gã thanh niên dẫn đường cho gã biết là vẫn chưa có ánh sáng làm cho gã điên tiết lên. Gã lại gào lần nữa. Có người lên tiếng:
- Chuyện gì thế ?
Gã mù nói oang oang:
- Không có ánh sáng !
Nhiều người phụ họa:
- Đúng vậy, không có ánh sáng !
Thật là một sự nhục mạ đối với hành khách, đối với con người. Con người không phải là thú vật. Sống trong bóng tối tức là phỉ nhổ lên sự tiến bộ của nhân loại. Hơn nữa, ánh sáng trên xe là một tiện nghi tối thiểu phải có và phải được duy trì luôn luôn tốt để phục vụ dân chúng. ánh sáng được tính tiền trong tấm vé xe. Chính quyền đã không có biện pháp gì trong trong việc này ư ? Quần chúng sẽ đòi hỏi những quyền lợi của họ. Người dân Braxin mong muốn hòa bình, yên ổn và được thỏa mãn nguyện vọng nhưng không vì thế mà cứ xem họ như là những con rối. Một ngày nào đó, họ sẽ vùng dậy !
Và mọi người trên những toa tàu bắt đầu la ó, tranh luận sôi nổi. Một người lai da trắng đề nghị giết chết gã kiểm soát viên nhưng một người khác xưng tên là Viết-gu-li-nô phát biểu:
- Không nên làm như thế ! Gã kiểm soát viên cũng nghèo như chúng ta, gã cũng không có quyền hành gì.
Một vài người khác đề nghị tổ chức một cuộc xuống đường biểu dương lực lượng thật lớn ở thành phố Bơ-lem, có đọc diễn văn, có phát biểu, có dàn nhạc thật rầm rộ.
- Một cuộc đốt lửa ban đêm nữa !
- Đúng thế, nên có đốt lửa !
- Nên lắm, tuyệt diệu !
Nhưng ông Viết-gu-li-nô phân tích:
- Không được, làm như thế tốn kém lắm. Chúng ta lấy đâu ra tiền !
- Bây giờ phải làm gì ?
Không ai trả lời. Nhưng ông Viết-gu-li-nô đã suy nghĩ và có cách. Ông ta là trưởng ban mổ xẻ ở lò thịt Ma-ga-ri. Ông rút con dao ở thắt lưng và bắt đầu rạch đứt những ghế ngồi có nhồi rơm. Ông ta múa con dao và chặt đứt mọi thứ trong toa tàu với tất cả nghệ thuật.
Ông rạch đứt khúc đệm rơm liệng qua khung cửa sổ tao xe rồi hô lớn:
- Đây, hai ki-lô rưỡi thịt ngực !
- Đây, hai ki-lô thịt phi lê !
Mọi người cười ồ lên thích thú và tất cả công nhân trong toa tàu bắt chước ông "sếp" của họ. Bản năng thích mổ xẻ thịt súc vật bừng dậy. Họ reo hò và bắt đầu chặt, chém, rạch nát mọi thứ có thể chặt đứt được rồi họ quẳng các mảnh vụn ra cửa. Hành dộng phá hoại của họ có tổ chức, có người hướng dẫn trong không khí vừa phẫn nổ, vừa vui nhộn.
- Này Băng-tô, mày hạ đến con thứ mấy rồi ?
- Bốn mạng rồi mày !
Khi gã mù thổi sáo Ba-hi-a biết rõ sự việc xảy ra, gã như muốn nhảy cỡn lên vì sung sướng. Gã kiểm soát viên trên toa tàu chạy tới chạy lui, lo sợ gần như muốn khóc.
- Chuyện gì thế ?
- Chết rồi, mọi người nổi điên lên rồi !
- Nguyên nhân là không có ánh sáng !
- Ai mà chịu nổi ! Tối đen như địa ngục ! - Gã mù buột miệng như thế. Ông Viết-gu-li-nô chạy qua các toa khác đốc thúc cuộc đập phá. Mọi hành khách khác cũng hưởng ứng rần rần. Gã kiểm soát viên rút vào trong cái phòng nhỏ của gã và bắt đầu cầu nguyện. Thành phố Bơ-lem còn quá xa. Những dãy ghế nệm rơm trong các toa xe không còn gì cả, chỉ trơ lại những sười sắt bên trong. Hành khách đã ngưng đập phá, họ đứng yên và bắt đầu tán chuyện với nhau.
Gã mù ở Ba-hi-a dạo một khúc nhạc hùng tráng của Pháp "Aux armes, mes citoyens !" (Công dân của tôi ơi, hãy đứng lên đấu tranh !) Thanh niên tóc đỏ hoe dẫn đường gã mù lấy tờ báo rách gói gọn một con dao nhọn mà gã lượm được trong cảnh hỗn độn vừa qua.
Lát sau, đoàn tàu hú một hồi còi và dừng lại ở ga Bơ-lem. Phút chốc hành khách tản mác khắp nẻo đường và đoàn tàu trống rỗng. Gã kiểm soát viên bước xuống sau cùng, mặt xanh như tàu lá.
Khi tin tức nổi loạn trên tàu Ma-ga-ri được truyền đi, thành phố Bơ-lem xôn xao hẳn lên. Những tờ báo hàng ngày chạy tít lớn: "Hành khách nổi loạn trên tàu Ma-ga-ri ! Họ đập phá và vứt tất cả mọi thứ trong toa xe xuống đường sắt !" Nhưng sau đó báo chí bị tịch thu, chính quyền sợ gây xúc động trong dân chúng.
Cảnh sát mở ngay một cuộc điều tra khẩn cấp để tìm ra kẻ chịu trách nhiệm. Đại diện chính quyền, trước mặt một số đông luật sư, đại diện báo chí, các nhân vật quan trọng trong thành phố đều có mặt để thẩm vấn và nhận diện các hành khách đi trong chuyến tàu đó.
Không ai chịu tiết lộ một điều gì rõ ràng cả. Không ai muốn tố giác kẻ chủ động trong vụ nổi loạn trên tàu Ma-ga-ri.
Bỗng một hành khách tự xưng là tín đồ Cơ đốc Tân giáo cầm quyển Thánh kinh trên tay, được gọi đến. Vị đại diện chính quyền hỏi:
- Chắc ông không giấu giếm vụ việc này chứ ? Ông cho biết nguyên nhân chính của việc nổi loạn trên tàu ?
- Nguyên nhân chính là vì đoàn tàu không có đèn, không có tí ánh sáng nào cả trên các toa xe !
Vị đại diện chính quyền nhìn thẳng vào đôi mắt người Cơ đốc Tân giáo hỏi tiếp:
- Ai là người phát động cuộc nổi loạn ?
Tất cả mọi người có mặt đều lo sợ, hồi hộp nhìn nhau, chờ đợi câu trả lời của vị tín đồ Cơ đốc. Ông ta trang trọng đặt tay lên quyển Thánh kinh và chậm rãi tiết lộ:
- Người phát động và lãnh đạo cuộc nổi loạn là một gã mù !
Mặc dù trước khi nói, người Cơ đốc Tân giáo đã để tay thề trên cuốn Thánh kinh nhưng người ta cũng đưa gã vô tù không thời hạn bởi lẽ gã không thể "đùa giỡn với Pháp luật" như vậy được.
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Quả tim người chết

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Bác sĩ Mac Lane đặt tay lên điện thoại. Tôi nheo mắt :
- Ông định làm trò dại dột gì thế?
- Gọi cảnh sát. Tôi không muốn bị tống tiền!
- Ông cuồng trí hay sao thế, bác sĩ. Một trong những chuyên gia về tim giỏi nhất nước như ông lại hủy hoại sự nghiệp vì món tiền cỏn con năm nghìn đô-la. Thật dại quá!
- Tôi chẳng ngu đến nỗi tin rằng đưa tiền cho ông là xong đâu. Ông còn trở lại hạch sách nữa đấy.
- ừ nhỉ, đúng thật. Thế mà mình không nghĩ ra - tôi đáp - Tôi đâu phải hạng tham lam. Năm nghìn đô-la với tôi là quá đủ.
Ông ta nhìn tôi lúc lâu:
- Làm thế nào mà ông lại biết được về tôi?
Tôi mỉm cười :
- Trong ngành chúng tôi, ai cũng là chuyên viên cả, bác sĩ ạ. Ông đã nghe hàng nghìn quả tim đập rồi và chắc chắn chúng cũng nói với ông nhiều điều. Tôi cũng thế, cũng lắng nghe, nghiên cứu và ghi nhớ. Một luật sư tốt phải biết lắng nghe, nghiên cứu và ghi nhớ. Để giữ thể diện, tôi cũng có văn phòng trong thành phố.
Tôi tự cho phép mình mơ mộng đôi chút, nhưng chỉ đôi chút thôi và lại hỏi:
- Ông đã ngồi tù ba năm, đúng không? ở Larency thì phải?
Ông ta đỏ mặt:
- Chuyện xảy ra hơn ba mươi năm rồi. Tôi vô tội!
- Ai biết được! - Tôi đánh lưỡi - Thôi, trở lại chuyện cũ nào. Điều quan trọng là ông đã nằm khám. Tôi nghĩ rằng khách của ông chẳng thích chuyện ấy đâu.
Ông ta nhìn tôi và chợt thổn thức:
- Ông nói phải. Sự vô tội và những gì còn lại, ích lợi gì đâu cơ chứ ... Tôi là người sưu tập tiếng tim đập. Như ông đã nói, tôi đã nghe hàng nghìn lần ... Cả tiếng tim tôi nữa. Bây giờ, ai nghĩ gì, mặc kệ. Tôi chỉ còn hai tháng để mà sống.
Và ông lại nhắc ống nghe ra khỏi giá đỡ:
- Tôi muốn cứu những nạn nhân bất hạnh khác của ông.
Mạch máu thái dương của tôi đập mạnh. Lão già ngu dại này sắp làm hư bột hư đường hết. Bao nhiêu năm trời miệt mài. Tay tôi lần chiếc gạt tàn lớn... Khi tôi đánh Mac Lane, ông ta vừa quay được một con số. ống nghe rơi xuống. Tôi đập nữa, đến khi ông ta đổ vật ra đất.
Lúc hiểu ra mình vừa làm gì, cơn giận tan biến đâu mất, chỉ còn nỗi sợ cứng người. Ngồi sụp xuống cạnh vị bác sĩ, tôi sờ tay lên ngực ông ta: không một tiếng đập. Mac Lane đã chết. ống nghe lơ lửng đầu dây. Tôi gác nó vào giá đỡ và bước ra cửa, nhưng chợt dừng lại. Còm Collins, tay thư ký riêng của bác sĩ Mac Lane. Ban nãy, khi tôi bấm chuông cửa, Collins đã đi ra. Anh ta vừa hết việc.
Tôi lục khăn tay và lau trán. Không thể chạy trốn ngay được. Phải cân nhắc. Tôi bước qua phòng khách ngổn ngang. Một cánh cửa mở vào phòng làm việc. Đấy là căn phòng có kích thước trung bình. Chiếc bàn giấy lớn. Hai dãy kệ đựng hồ sơ đóng liền tường. Chiếc máy hát có nắp đậy ... Tôi liếc bức tường và chợt nảy ra một ý. Thực hiện thì khó thật, nhưng chẳng còn lối thoát nào nữa. Tôi gọi điện cho Walt Matson và cho ông ta địa chỉ bác sĩ Mac Lane :
- Ông phải đến gặp tôi ngay. Đừng có xin lỗi gì hết...
- Tôi không thể gặp ông ngay được. Chiều nay, có phiên họp ...
Tôi cấu mạnh ống nghe:
- Tôi không xin xỏ, Walt, tôi ra lệnh đấy!
- Nhưng phiên họp này quan trọng lắm và ...
- Này, - tôi cất giọng lạnh lùng - nếu thế thì cả lô người sẽ vô cùng sung sướng khi biết Walt Matson, Chủ tịch Hội đồng Thị chính đã ăn tiền hoa hồng mỗi lần thành phố tìm được thị trường đấy.
Im lặng thật lâu. Và tiếng Matson:
- Tôi sẽ đến.
Tôi gác máy và gọi luôn cho Mona Saunders. Cô ta cũng không muốn gặp tôi ngay, nhưng tôi đã làm cô ta phải đổi ý. Hai mươi phút chờ đợi lê thê. Tôi liếc đồng hồ không ngớt. Cuối cùng, tám giờ rưởi, tiếng chuông cửa vang lên.
Chưa mở cửa, tôi đã biết ngay là Mona Saunders. ánh mắt cô ta đầy vẻ thù hận, giận dữ:
- Ông quấy rầy tôi vì cái gì thế? Tôi báo trước, đừng hòng xoay ở chồng tôi một xu nào!
Ngay lúc khép cửa, tôi đã thấy xe của Walt Matson đậu ngay trước xe Mona. Chẳng buồn trả lời cô ta, tôi hé cửa đợi. Walt là người phục phịch, mặt đỏ ửng :
- Khổ quá! Sao lại phải đến ngay thế? Tôi đã bảo đừng có dồn tôi đến chân tường, và ...
- Vào đi - tôi cắt ngang.
Vừa vào đến phòng khách, họ đã sững người vì thấy xác bác sĩ Mac Lane. Trong khi Walt tái mặt, Mona chẳng hề sửng sốt. Đây không phải lần đầu cô ta trông thấy người chết. Mona nhìn thẳng vào mắt tôi:
- Thế là sao?
- Hai người sẽ làm chứng cho tôi: Trong lúc xảy ra vụ án, tôi không có mặt ở đây.
Walt mở to đôi mắt kinh hoàng:
- Tôi không thể làm gì cho cậu được đâu. Rất tiếc... làm sao bao che tội giết người được...
- Ông còn đường nào lựa chọn nữa không? Nghĩ kỹ đi, ông hưởng thụ quen rồi.
- ...
- Tôi nghĩ, ông chẳng muốn nằm tù đâu, nếu tôi có bề gì, tôi sẽ kéo theo cả hai vị đấy.
Mona nhìn xác chết lúc lâu. Gần ba mươi tuổi, cô vẫn còn đẹp. Điều ấy làm tôi tin cô ta rất có quyền lực với chồng - ông già Wayne. Mona hỏi:
- Làm gì đây?
Tôi bước về cuối phòng khách và mở cửa phòng làm việc của vị bác sĩ:
- Lúc bác sĩ bị giết, cả ba chúng ta đang ở trong này.
Mona gượng cười:
- Sao lại trong ấy? Tôi biết cảnh sát sẽ thắc mắc đấy.
Tôi sờ lên cổ để tin rằng đầu mình vẫn còn trên ấy. Tôi không thích nghe ai nhắc đến hai chữ "cảnh sát" trước mặt mình. Tôi đáp:
- Báo đã đưa tin: Mac Lane đang vận động chiến dịch xây dựng một bệnh viện ở phía Nam thành phố. Nhưng ông ta không đủ tiền... Kết luận: Mona và tôi đến trấn an ông ta. Mona sẽ góp phần vào việc xây dựng ấy.
Nụ cười của Mona trở nên cay đắng và nghẹn ngào:
- Thật là oái oăm. Dễ gì Wayne chịu bỏ tiền ra, dù đây là việc từ thiện.
- Tôi cóc cần biết lão ta có xùy tiền ra hay không. Quan trọng là ở chỗ cô đã thuyết phục được lão cởi hầu bao bởi vì đấy là con người hào hiệp, sẵn sàng giúp người khác bằng tiền của mình.
Tôi lần lượt nhìn họ và tiếp:
- Tôi là luật sư, chính vì vậy mà các vị yêu cầu tôi mọi chi tiết. Tôi đã gặp bác sĩ Mac Lane và cho một cuộc hẹn, vì các vị muốn gặp riêng ông ta. Còn ông, Walt ạ, tôi đã yêu cầu ông đến đây, vì ông là một nhân viên nhà nước. Tôi đã gợi ý với bác sĩ rằng: Nên hỏi ý kiến ông về chỗ xây bệnh viện...
Tôi lục lại trong óc, xem còn gì nói với họ nữa không. Chợt nhớ đến Collins, tay thư ký của bác sĩ, tôi nghĩ ra: anh ta luôn ghi những cuộc hẹn vào sổ tay, tôi nói ngay:
- Không ai trong hai vị có hẹn trước. Tôi đã gọi điện cho hai người sau khi nói chuyện với bác sĩ.
Walt ưng thuận, nhưng đôi má phị vẫn run bần bật. Mắt Mona lấp lánh. Cô ta lên tiếng trước, giọng hài lòng:
- Tôi nghĩ rằng chúng ta đóng kịch khéo đấy. Bây giờ đến lượt ông luồn lụy mua vui cho bọn này.
Tôi mỉm cười:
- Tôi chẳng luồn lụy bao giờ, Mona ạ! Sao cô lại nghĩ thế nhỉ? Lúc nào tôi cũng có thể báo cảnh sát. Họ sẽ đào thấy xác ông chồng trước nghèo kiết xác và từ chối ly dị khi cô gặp Wayne...
Có lẽ cô ta đã nhớ, vì đã gật đầu:
- Chúng tôi sẽ nghe lời ông.
- Thế chứ! Bây giờ nghe đây. Cả ba chúng ta đang bước vào phòng làm việc thì chuông cửa reo. Bác sĩ xin lỗi, vì tay thư ký đã về, ông ta phải đích thân ra mở cửa. Ông ta mời chúng ta vào đợi trong phòng làm việc. Cả ba bước vào và khép cửa lại...
Tôi thở dồn dập, câu chuyện không đến nỗi nào...
- Đương nhiên, chúng ta không biết ai đã nhấn chuông - Tôi tiếp - Và cũng chẳng thấy gì. Chúng ta nói chuyện với nhau khoảng hai mươi lăm phút và bắt đầu thắc mắc: Bác sĩ làm gì lâu thế? Chính ông, Walt ạ, ông đã mở cửa vào phòng khách ... Và cả ba đều thấy xác chết. Trong chúng ta, không ai ở một mình cạnh bác sĩ bao giờ. Đấy. Nhớ kỹ vào và đừng chua thêm một lời nào nữa. Càng kín tiếng, càng ít hớ.
Khuôn mặt chảy xệ của Walt đẫm mồ hôi:
- Thế ông không nghĩ rằng chúng ta phải nghe thấy tiếng động sao? Tiếng xác chết ngã xuống chẳng hạn?
Tôi suy nghĩ như chớp :
- Không. Chúng ta đang trong làm việc mà cửa lại đóng. Căn phòng hầu như cách âm tuyệt đối. Nếu chúng ta nghe được bất cứ tiếng gì, cảnh sát sẽ thắc mắc: Tại sao chúng ta không ra ngay và cố nhận mặt kẻ giết người?
Họ đã hết câu hỏi. Cũng chẳng còn gì gợi ý. Tôi nhấc ống nghe và xin tổng đài được nói chuyện với cảnh sát.
- Tối khẩn đấy! - Tôi lấy giọng thảng thốt.
* *
*
Trung sĩ Harrison nhìn tử thi được đem đến trong chiếc giỏ mây:
- Lạ nhỉ. Chẳng ai trong số các vị nghe thấy tiếng động nào... Lẽ ra phải nghe tiếng kêu, hay tiếng xác chết đổ vật xuống chứ?
Mona lắc đầu:
- Không, chúng tôi có nghe thấy gì đâu.
Harrison quay lại Collins - thư ký của bác sĩ:
- Ông chắc rằng bác sĩ đây không có kẻ thù chứ?
Collins là một người nhỏ thó, rụt rè. Sau khi được tin, cảnh sát đã đến nhà anh ta ngay. Collins lắc đầu:
- Ai đã quen biết bác sĩ Mac Lane đều yêu mến ông ấy.
Harrison gật gù:
- Phải gan cóc lắm mới dám giết người trong khi ở phòng bên, còn những ba người nữa.
Tôi cố giữ giọng bình thản:
- Nếu chúng tôi không nghe thấy gì, tức là kẻ giết người cũng chẳng biết có chúng tôi ở bên. Chắc hắn cho rằng bác sĩ ở nhà một mình.
Đôi mắt xanh của Harrison thoáng vẻ mơ hồ, ông ta bước đến phòng làm việc và mở cửa:
- Các vị thử vào xem... (Ông ta quay sang một cảnh sát viên mặc đồng pohục) - Khi cửa đã đóng, cậu hãy thử quăng vài quyển sách nhé...
Chúng tôi vào, Harrison khép cửa lại. Lát sau, một tiếng động lớn vang lên từ phòng khách.
- Căn phòng này không hoàn toàn cách âm như ông nghĩ đâu - Viên trung sĩ nhìn tôi.
Tôi gượng cười:
- Trung sĩ ạ, ông quên rồi. Chúng tôi đang nói chuyện mà. Bởi thế, có nghe ra gì đâu.
Tiếng động đinh tai lại vang lên. Lần này càng nghe rõ mồn một. Tôi nói:
- Trung sĩ, ông giả sử rằng : Bác sĩ đã kêu lên và ngã xuống nền nhà. Nhưng biết đâu mọi việc xảy ra hoàn toàn khác.
Tôi chợt nghĩ: Câu nói này có thể làm ông ta nghi ngờ thêm. Walt chợt mất bình tĩnh và lắp bắp:
- Máy... máy hát đang chạy... Vì thế mà không nghe thấy gì cả.
Phải khó khăn lắm, tôi mới dằn xuống được. Đồ ngu! Càng lắm lời, người ta càng kiểm tra nhiều... Nhưng câu nói của Walt đã lôi cả lũ vào và tôi phải xác nhận thôi.
- ồ, đúng rồi! Tôi quên khuấy đi mất. Máy hát đang chạy... Lúc chúng tôi vừa vào đây thì nó đang hát mà.
Harrison mỉm cười nghi hoặc, ngước nhìn trần nhà lẩm bẩm:
- Trong lúc máy đang chạy mà nói chuyện được thì hay thật...
Tôi cố bình thản:
- Máy chạy khẽ lắm, trung sĩ ạ. Thoang thoảng thôi...
Một ánh chớp vụt qua mắt Collins, anh ta như hé môi định nói gì và lại thôi. Harrison nhìn tôi:
- Ông có nhớ máy đang hát bài gì không?
Tôi lắc đầu. Mona tiếp tay:
- Tôi cũng không nhớ nổi, thưa trung sĩ. Tiếng nhạc nhỏ quá... Ông biết đấy, tôi chỉ có một tai mà nghe nhạc...
Tôi chợt buông một câu:
- Mà điều đó can hệ gì cơ chứ?
- Tôi nghĩ là không... Tôi chỉ thu thập và kiểm tra sự việc thôi. - Viên trung sĩ lại cười.
Walt chúm đôi môi dày và phán một câu, trong khi chẳng ai yêu cầu:
- Tôi nhớ... tôi nhớ đấy là nhạc cổ điển.
Trời ạ! Suýt chút nữa thì tôi tống một quả vào mặt gã. Collins chợt nói:
- Bác sĩ Mac Lane có cả một bộ dĩa nhạc cổ điển. Ông ấy thích loại nhạc này lắm!
Harrison bước lại chiếc máy và mở nắp. Trên đó chẳng có chiếc dĩa nào. Tôi nghẹn thở:
- Tôi đã cất hết dĩa vào tủ trong phòng khách... Lý ra, có thể làm khác... Có lẽ với ông, đây là chi tiết quan trọng... Tôi đã phạm tội sao?
- Không. - Harrison đáp.
Collins rụt rè mỉm cười:
- Đúng đấy, bác sĩ có cả bộ sưu tập dĩa hát, nhưng có thể để đâu đây...
- Thế anh bảo những cái dĩa ấy là gì? - Tôi mạnh dạn chỉ hai hộc tủ.
Collins bước về đó. Anh nhìn qua và rút ra một chiếc dĩa:
- Cái này thích hợp lắm đấy... Bác sĩ là nhà sưu tập, nhưng bộ sưu tập này cũng là nghề nghiệp của ông ấy đấy. Rất cần cho công việc... Nghe thử xem... Dĩa này có tên là Bác sĩ James Mac Lane. Anh ta lắp dĩa và cho máy chạy. Tôi lắng nghe vài giây tiếng động lạ và chợt nhảy nhổm như bị đâm vào ngực. Chết rồi... Collins chỉ cho viên trung sĩ dãy kệ:
- Bác sĩ là một chuyên gia về tim rất giỏi. Ông ấy sưu tập tiếng tim đập của bệnh nhân, tiếng tim của những người nổi tiếng, của thú vật, của cả ông ấy ...
Tôi nhìn sững Mona và Walt. Trông gã càng tiều tụy. Còn Mona, tôi đọc được trong mắt cô ta: chẳng quan tâm gì về tôi và nỗi lo sợ của tôi. Chỉ nghĩ về ông chồng trước của mình và những gì phải kể với cảnh sát về cái chết của ông ta.
Harrison nhìn tôi và mỉm cười.
Trong gian phòng, chẳng còn gì ngoài tiếng đập của một quả tim người chết!
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Hoa Quỳnh

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Tôi miễn cưỡng gõ cửa. Chỉ có một mình ông cậu tôi trong phòng. Tình thế đó càng xúi tôi nên rút lui, mặc dù đã đội mưa đi trong
đêm thứ bảy, bỏ buổi xi nê với bạn gái lại phải leo ngót chín từng lầu để tới đây.
Nói chung, từ lâu tôi rất sợ đối diện với cậu Năm tôi, tôi sợ bị rầy về tác phong, về nhân sinh quan, nhất là từ ngày cậu tôi về hưu lần
thứ chín này. Cậu là sĩ quan cấp tá, đã từng là sư trưởng và rất nhiều chiến công, thế mà về hưu lại ở nhà của mợ, cán bộ công ty cơ khí.
Từ khi tôi lớn lên cậu cũng là mẹ gần gũi tôi, thay cho cha mẹ tôi ở quê.
- Ngồi xuống đó, chờ cậu một lát nghen - Cậu không bắt tay tôi như lệ thường vì tay đang dơ - một chút nữa là xong ngay? Cháu thấy
có gì lạ không? Thấy chưa nè?
Đối với tôi, sau một năm không về thăm cậu, bây giờ trông cái gì cũng lạ. Gian phòng lộng gió bỗng nhiên trang trọng lạ thường. Trên
tường, sáng khuôn mặt ba người anh tôi đã hy sinh (cậu tôi có ba người con trai, thì cả ba đều hy sinh). Bộ salon tiếp khách được lau
chùi sạch bóc bàn con với bộ đồ trà kỳ cọ sáng trưng. Và tôi vừa kịp nhận ra điều lạ nhất: chậu hoa quỳnh đặt trên mặt đôn sành hình
trụ, màu à. Ba đóa hoa quỳnh bụ bẫm cỡ búp sen đang hé nở.
- Cậu đang chuẩn bị để đón hoa quỳnh nở đợt đầu tiên trong năm, cuối tháng năm - cậu tôi nói trong khi đang lui cui cắt tỉa những lá
quỳnh đèo hoặc đã cỗi, phun nước rửa sạch bụi trên lá và lau sạch bụi nước rơi - cháu có dịp nào xem quỳnh nở chưa? Rồi cháu sẽ
được thấy lẽ sống tuyệt vời của một loài hoa.
ổng lại lắc đầu "lên lớp" một bài học về lẽ sống. Tôi trộm nghĩ và bụng bảo dạ, đừng có quên mà nói ra -nhưng chẳng lẽ không góp
chút gì vào niềm vui tuổi già của cậu tôi?
- Thưa cậu, cháu có đọc tin được biết các chiến sĩ phía Bắc tặng ca sĩ miền Nam ra phục vụ một đóa hoa quỳnh, chắc là thứ quỳnh này?
Mái tóc bạc phơ, chân mày cũng bạc cậu nhìn tôi qua cặp kính lấp lánh, ánh mắt long lanh, rồi cậu bước tới xoa đầu tôi như thuở tôi
còn bé. Tôi chờ đợi để nghe những lời giáo huấn. Nhưng tuyệt nhiên không có, đây là điều làm tôi ngạc nhiên
- Chính là cái thứ quỳnh mà cháu đang ngắm đây - Cậu Năm chỉ vào những đóa hoa quỳnh đang chúm chím nở - Rồi cháu sẽ biết đây
là thứ quỳnh nào. Quỳnh cũng có nhiều loại, có loại hoa dại như bông súng, với vẻ đẹp đồng nội, có loại thanh cao như hoa sen. Cậu
đã loại bỏ nhiều loại, chỉ giữ lại một loại quý giá nhất mà cháu đang thấy đây. Đêm nay cháu ngủ đây với cậu sẽ thấy quỳnh này quý
ra sao. Hãy ngủ lại đây với cậu. Đêm nay, sau khi xong xuôi, chỉ còn lại cậu cháu mình.
Có tiếng gõ cửa, cậu tôi xăng xóm mặc áo, mở cửa rước mấy người bạn già, khách của đêm hoa quỳnh nở. Tôi đoán thế, vì nghe được
những câu chào đầy nhiệt tình: "Đêm nay, quỳnh tôi cũng có một bông". "Tôi cũng vậy, đáng lẽ là bảy bông, nhưng chẳng biết sao, nó
vừa nhú ra đã đỏ úa và rụng". "Nè, trong khi hoa nở, cấm các "đạo sĩ hoa quỳnh" hút thuốc trong phòng, sợ làm ô uế mùi hương tinh
khiết". "Ôi trời ơi tuyệt. Ba bông kia à. Mới hé nở mà đã thơm rồi"
Mọi người nhanh chóng ngồi vào bộ salon một cách trang trọng như đã có quy ước sẵn. Trong khi đó, cậuNăm tôi pha trà, mở đúng cái
hộp đựng trà móc câu, cho đúng ba muỗng nhựa trà vào cái ấm gan gà - mà cậu tôi vẫn dùng từ ngày còn ở trong rừng. Trà được rót ra,
đổ vào mấy lượt, cho thật "tới chữ" rồi mới được rót chia đều trong năm cái chung mắt trâu. Tôi tự biết rằng, mình cũng đã được cậu tôi
dành phần bình đẳng với các vị khách cao niên.
- Bữa nay có thằng cháu ruột đến chơi - Cậu Năm chỉ tay về phía tôi - còn đây là các bác trong chung cư - Cậu hướng mặt về phía các
ông khách - Tôi có thằng cháu trai độc nhất đang học quay phim, lại trúng nghĩa vụ quân sự, chưa biết nó tính sao đây.
Cậu Năm nói, giống như vừa chợt nghĩ ra cái chuyện tôi trúng nghĩa vụ quân sự, cái chuyện hơi khó xử về phía gia đình, cơ quan và cả
tôi nữa. Chẳng qua là vì cái vai trò độc nhất của đứa con trai là tôi trong nhà và cả trong họ, lại là đứa đang mê nghề quay phim. Cả nhà
đang bán tán, còn cơ quan thì đề nghị lên Hội đồng tuyển quân xét miễn. Chỉ riêng cậu Năm thì dứt khoát bảo tôi phải xác định thái độ
là đi. Vậy mà bây giờ, cậu nói tỉnh như không: chưa biết nó tính sao đây.
Tôi biết rằng, câu chuyện về tôi chỉ có thể tạm dừng lại đây. Vào thời điểm này, chủ đề chính đang là ba cái bông quỳnh đang nở vô số
cánh trắng như tuyến, nõn nà trinh bạch và thánh thiện hơn tất cả những cánh hoa trắng khác trên đời. Nhụy hoa màu hoàng kim, mang
dáng hình chiếc thuyền rồng đang lướt tới. Nhưng, có lẽ đặc biệt nhất là mùi hương hoa quỳnh. Nó dìu dịu, đằm thắm, như kết tinh của
tất cả những gì mộc mạc nhất của hương hoa đồng nội, trong đó có thoảng mùi bông bưởi bông cau, bông lúa, bông dừa, cả mùi của
gió và trăng.
Mọi người lặng đi, chỉ ừ-à, xuýt xoa, hít hà cho đến hết hai tuần trà đầu tiên, khi đóa hoa đã xoè tròn, phô hết sắc hương làm mê đắm
giác quan con người, những câu bình luận mới bắt đầu.
- Một loài hoa tuyệt vời như thế này mà lại nở về đêm, thật là một thiệt thòi cho nhân loại - Vị khách thứ nhất hào hứng tuyên bố: Nếu
tôi là nhà khoa học, tôi sẽ cải tạo nó nở đúng vào buổi bình minh.
- Này cháu - Vị khách thứ hai quay sang tôi - có thể chụp ảnh hoa quỳnh được không? Chú muốn nói đến một kiểu ảnh naturel, thật
như thiên nhiên, như đoá hoa quỳny trong ánh trăng thanh.
Cậu Năm đưa mắt khuyến khích tôi cứ mạnh dạn trả lời
- Cháu chưa từng chụp hình hoa quỳnh - Tôi cố gắng nói thật nhỏ nhẹ - nhưng cháu nghĩ là rất khó, nếu như chụp thật tự nhiện, không
dùng đèn flash, nghĩa là chụp dưới trăng hoặc ánh sáng thường.
- Chính vì vậy mà cần lai tạo sao cho hoa quỳnh nở ban ngày, dưới ánh sáng mặt trời.
- Tôi nghĩ là không nên lai tạo, nên giữ bản quyền này của thiên nhiên, nhưng hãy để tới lúc nó nở đẹp nhất, rồi cho đông lạnh, đến
sáng hôm sau ta có thể chụp hình đóa hoa bằng ánh sáng trời. ý kiến của vị khách thứ ba có lẽ là ông giám đốc nhà máy đông lạnh làm
mọi người cùng cười, trừ một người thôi, đó là cậu Năm tôi.
- Người ta có thể lai tạo bất cứ sinh vật nào có gien di truyền. Nhưng tôi e rằng không thể lai tạo được hoa quỳnh. Tôi quý loài hoa này
ở chỗ nó chỉ nở vào những đêm thanh, thí dụ như đêm nay, một đêm hạ tuần tháng năm, cho nên, đúng là cần phải giữ mãi cái bản
quyền của thiên nhiên tạo ra. Biến cải bông hoa quỳnh, tôi e rằng, chỉ là sự nhại lại hình thức của nó, chớ làm gì tái tạo được mùi
hương? Và quan trọng hơn là làm sao có thể tái tạo được - dưới ánh sáng mặt trời - linh hồn của nó, lẽ sống của một loài hoa thanh
khiết, của gió và trăng?
Không gian hẹp sực nức mùi hương như minh họa ý nghĩ của cậu tôi. Mọi người đều trầm tư, câu chuyện đang sôi nổi bỗng lắng lại,
làm cho không gian thu hẹp, mùi hương hoa thêm quyến rũ, mê đắm.
- Anh Năm nói đúng - người khách thứ nhứt chống tay đỡ cằm, mắt lim dim ngắm hoa, đầu gật nhẹ - không nên lai tạo, cải biến gì cả,
cứ để nó mãi mãi là hoa quỳny nở về đêm cho đời thêm phong phú. Chỉ có điều, xin anh Năm chỉ dùm cái linh hồn, cái lẽ sống của nó
chẳng lẽ cũng là cái ta đáng quan tâm hơn cả hương sắc của nó hay sao?
Hầu như cả những người đang thưởng thức hương vị đặc sắc của hoa quỳnh, trong đó có tôi, đều có chung một dấu hỏi như vị khách
thứ nhứt vừa nêu ra. Và tất cả đều hướng về tác giả của ba bông hoa tuyệt vời đêm nay.
- Cái này nói ra hơi trừu tượng, chẳng qua cũng là liên tưởng nhưng sự liên tưởng không phản lôgich - theo thói quen, cậu Năm vuốt
mái tóc bạc rồi kéo ghế đến ngồi sát bên chậu quỳnh - các vị và cháu, hãy nhìn hai tiếng đồng hồ, nó sẽ còn một tiếng đồng hồ nữa
mới nỡ hết. Thời gian ba tiếng đồng hồ không quá ngắn như bông mười giờ, nhưng cũng không quá dài như hoa giấy nhưng rất có ý
nghĩa. Chính đây mới là chỗ đáng nói: sống một năm ròng trong mưa nắng ể góp nhặt tinh hoa và dốc hết cho đời trong vòng ba tiếng
đồng hồ, không để lại cho mình một chút hương thừa nào. Lẽ sống, nhân sinh quan của hoa quỳnh là ở chỗ này đây. Nếu không tin
tôi, các vị cứ ngồi lại đây đến mười hai giờ đêm, lúc đó cuống hoa không còn nghếch lên như bây giờ, nó rũ xuống sau khi đã làm
xong phận sự.
Cậu Năm tôi ngừng nói, bước vào phòng trong một giấy, bưng ra khay rượu, trong đó có một cái nhạo và bốn cái chung nhỏ, rót rượu
đưa tận tay từng người (lẽ tất nhiên là không có tôi)
- Bây giờ thì mời các vị nâng cốc chúc mừng lẽ sống hoa quỳnh, chúc mừng đêm nay. Cái gì có được, các đóa hoa này đã trao hết cho
chúng ta. Hương lúa, hương dừa, hương bưởi, hương cau... có đủ tất cả, chúng ta đã nhận được tất cả trong những giấy phút chúng ta
nâng cốc, hút thuốc mà không còn sợ xúc phạm đến sự tinh khiết của loài hoa.
Bốn ông già chạm cốc vui vẻ, thanh thản như bốn người thoát tục. Khi các "ông tiên" ấy từ giã nhau ra về, cũng là lúc những đóa hoa
quỳnh bắt đầu xếp cánh và rũ xuống
- Tôi phải về đây, anh Năm ạ. Tôi chịu thôi, không thể nào nhìn đóa hoa tàn tạ mà không mủi lòng. Vị khách thứ nhất đứng dậy.
Vị khách thứ hai thở dài:
- Giống cái chết của con thiên nga, phủ phục sau khi đã hát lời cuối cùng. Chỉ có âm nhạc và hội họa mới biểu hiện nổi.
Còn vị khách thứ ba - người chủ trương đông lạnh - thì im lặng.
Khách về rồi, cậu tôi vẫn ngồi ngắm hoa một hồi lâu, cho tới khi ba đóa hoa hoàn toàn trở thành một cái xác không hồn. Lúc bấy giờ,
sau khi đưa chậu hoa ra hành lang - khu vườn nhỏ đang tràn ngập ánh trăng - cậu tôi trở vào đốt ba nén nhang, cắm tạm trong chiếc
bình hoa nhỏ đặt dưới ba bức chân dung các anh tôi.
- Các anh cháu là những đóa hoa quỳnh - cậu Năm tôi nói khẽ - Anh thứ hai của cháu hy sinh tuổi hai mươi ba. Anh thứ ba hy sinh
tuổi mười tám. Anh thứ tư thì đúng tuổi tròn: hai mươi. Mỗi anh cháu đều cống hiến trọn vẹn đời mình cho đất nước, Không giữ lại
chút gì cho mình. Cậu nghĩ, thà làm hoa quỳnh ngắn ngủi mà hào phóng còn hơn làm hoa giấy nở hoài mà hương vị nhạt phèo.
Cho tới khi tôi thiếp đi, cậu Năm không nói thêm gì nữa, không hề dặn dò, "lên lớp" tôi như mọi lần, cũng không đá động gì đến
chuyện tôi có nên đi nghĩa vụ quân sự hay không.
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Con chim câu nhồi thịt

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Một cái gì ó lạnh buốt nơi ngực trái. Không, không phảit trái tim lâu nay đã nguội ngắt như cục sắt. Cũng không phải cái ví lép kẹp làm ta rảo bước thật nhanh
mỗi khi qua hàng phử, than ôi. Nó là cuốn sổ lương hưu con mẹ phòng lao động xã hội quẳng vào tay sáng nay, không, nó quẳng vào hồn ta đó, nhói đau
như bị ném một cục đá. Bốn mươi năm cán bộ, tám giờ vàng ngọc từ nay toàn là của ông, thế nhưng cần quái gì cái thứ giàu có xa xỉ ấy nhỉ, cứ bám cơ quan,
làm gì cũng được cốt lĩnh đủ tiền năng suất, tiền ăn trưa chứ chẳng phải vừa xoẳn 60 ngàn, quy ra phở mỗi ngày chỉ đủ ăn một bát chín. Lẽ tất nhiên, tính toán
lý thuyết vậy thôi, có họa điên mới bước châ vào cái máy chém đó. Vài sợi bánh, ba miếng thịt thái mỏng như lá lúa, hai môi nước dùng nhạt như nước rửa bát
vậy mà nó cắt cổ người ta những ba ngàn bạc thì thà để tiền mua mấy gói mì ăn liền lại chả hơn ư? Thôi thôi, nghĩ ngợi gì tẹp nhẹp quá thế, suốt một thời đã
quẩn quanh chuyện con cá, lá rau, giờ hưu rồi, phải tư duy cao siêu một chút chớ. Ông thong thả ngồi dậy. Ngoài cửa sổ mở ra vườn, trên một cành cây, có
chú chim nhìn ông lúc lắc đôi mắt hạt cườm. Lát nữa nó sẽ bay lên, bay lên, bay lê cao, cao mãi tới trời xanh, vượt khỏi mọi cây cò nơi trần thế. Còn ông,
chao ôi, lặn ngụp trong cõi nhân sinh, sáu mươi năm trong đời chưa lần nào cất mình khỏi cái hàng ngày đầy phiền tạo, chưa một lần đi trệch khỏi đường rầy
của những nề nếp người ta qui định cho ông, từ khi ông bước vào guồng máy với bậc khởi điểm nhân viên I và ra khỏi nó mới nhúc nhích vài bậc tới cán sự 3.
Bốn mươi năm lao động tiên tiến, ông quả là một viên chức cần mẫn với ý thức tổ chức cao vượt yêu cầu tới mức chưa bao giờ phát biểu phê bình thủ trưởng
trong các đại hội công nhân viên chức cho dù được khuyến khích nói thẳng nói thật. Tuy nhiên, tất cả những cái đó đều đã qua, đã thuộc về một thời... cóm
róm, bây giờ ông đã là người tự do, chẳng còn lo thủ trưởng nghĩ gì về mình, chẳng còn sự "tam quản", "nhị quản" (quản lý lập trường tư tưởng, quản lý lao
động, quản lý sinh hoạt v.v...). Ôi chà chà, bây giờ ông mới thực là ông, ông phải làm một cái gì đó chứng tỏ mình, một cái gì đó làm ông ngẩng cao đầu, ưỡn
ngực, cất mình vươn cao lên khỏi cái hàng ngày dung tục và tầm thường. Thật kỳ lạ, ông chưa đụng tới bình rượu thuốc uống một chén trước bữa ăn, vậy mà
người đã bừng bừng say, như người trong cõi khác.
- Đâu rồi, ra mà ăn cơm... Từ nay hưu rồi, ngủ lúc nào chả được, cứ nhè ngay bữa ăn.
Vợ ông đó, sau ba mươi năm nâng khăn sửa túi, bà đã kịp tạo cho ông một phản xạ căng thẳng mỗi khi nghe nàng nói. Ngay lập tức mọi ý nghĩ viễn vong
đều bị xóa sạch, ông có mặt ngay tại mâm cơm nhanh nhẹn như người lính được điểm danh, con gái ông reo to:
- Hay quá bố hưu rồi, ở nhà làm cái máy giặt, con đỡ phải sắm.
- Thôi, thôi, để bố cô nấu cho cô hai bữa cơm, vậy cũng gần hết tám tiếng rồi.
- Thì sáng bố dậy sớm, giặt loáng cái là xong ấy mà. Người già ngủ được mấy.
Ông nhìn vợ và nhìn con gái với cái nhìn đầy bí ẩn của con nhân sư trên sa mạc Sahara, rồi ông phá ra cười:
- Yên chí, yên chí, tôi sẽ nấu cả hai bữa cơm, giặt quần áo cho cả nhà, không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền. Ngày xưa đánh Pháp, đánh Mỹ còn
được, huống hồ ba cái việc vặt trong nhà...
Bà vợ trợn mắt:
- Lại say rồi, đã bảo buổi trưa đừng có uống, cứ uống vào là nói phét. ừ thì ông đánh Pháp, đánh Mỹ, nhưng tôi hỏi ông lúc về hưu ông mang được về mấy
cây?
Lại chuyện "cây", "que", lại chuyện duyên số hẩm hiu, làm như chính ông là nguồn gốc mọi khổ đau cay đắng bà ta phải gánh chịu cả đời. Vợ ông quên mất
rằng đã có một thời bà dắt ông đi trong bộ quân phục bốn túi, chân do giày đen, ngực đeo huy hiệu Điện Biên trên khắp phố phường đỏ rực rỡ cờ hoa đó sao?
Chẳng phải do vị trí của ông lúc đó mà bà ta được nhận vào thẳng sở thương nghiệp mà chẳng phải qua một ngày lao động cải tạo giống như các cô gái khác
thời đó sao?
Như mọi khi hẳn ông đã "mũ ni che tai", mặc cho bà đấm bị bông, nhưng hôm nay, ma xui quỹ khiến sao đó, ông đáp lại rằng ừ thì bà xui xẻo vớ phải "thằng
nhà quê", nhưng thử hỏi, nếu không có thằng nhà quê này liệu bà có thoát khoải mục xác trên Tây bắc như chán vạn đức khác vào thời đó chăng? Ông dẫn ra
cô A chết sốt rét trên bản Mèo, cô B mới mười năm đi cuốc đường xương sống gần gẫy làm đôi mới bò được được về, chả ma nào thèm lấy. Càng nói ông
càng hăng khiến cô con gái phải can:
- Thôi thôi, bố đừng nói nữa, bố ăn giò đi, giò Phú Hương đây, ngon lắm.
A... không nhé, đã tới lúc phải coi khinh miếng 5n, cái đã làm ta tranh đua cả một đời. Ông lại hăng lên, chạy tiếp cái đà hùng hồn, trịnh trọng tuyên bố:
- Từ hôm nay, tôi chỉ ăn đúng theo tiêu chuẩn lương hưu của tôi thôi, chẳng ăn lẹm của ai hết. Như món giò Phú Hương này chẳng hạn, không hợp túi tiền
của tôi, từ nay dứt khoát tô không ăn.
Cô con gái cười to:
- Lương hưu của bố chia ra, ngày được hai ngàn, vậy bố chỉ được ăn rau muống luộc chấm nước nắm.
- Cũng được, càng sạch ruột, không chết đâu mà sợ.
Thế là thực sự nổ ra cuộc cách mạng, không ăn nhờ vợ con, từ nay ông sẽ làm chủ gia đình, nói năng dõng dạc, đi đứng đàng hoàng chứ chẳng phải cóm
róm, rụt rè như trước kia nữa. Vợ ông không hiểu được điều đó, bà ta cười nhạt:
- Không ăn càng tốt, cất tủ lạnh chiều đỡ đi chợ.
Được rồi, cứ cất đi, cất ngay vào cái dạ dày càng kín, nhưng từ nay đừng hòng ra rửa bát nhé, ông xác định quyền làm chủ gia đình bằng cách phá lệ dọn dẹp
sau bữa ăn, cắm cái tăm vào miệng, đủng đỉnh tráng ấm pha trà, giở ra tờ báo là thứ mọi ngày ông chỉ sờ tới vào lúc đã xong xuôi mọi ciệc từ rửa bát, lau nhà
tới giặt giũ cả ba chậu quần áo khổng lồ. Thôi nhé, cả đời là, đầy tớ nhân dân, không lẽ hưu rồi lại vẫn làm đầy tớ dù rằng cho vợ con. Không, nhất định từ
nay ông chỉ có làm chủ, chẳng mó máy việc gì, cứ ăn rồi lại nằm, cuồng cẳng thì đi ra dạo phố, thật sướng hơn cả vua. Được vài ngày, ông chợt thấy thời gian
đã dôi ra một cách đáng sợ, tờ báo hàng ngày từ bài xã luận "Kiên quyết đi theo con đường của chủ nghĩa xã hội" cho tới "Bố cáo thành lập Công ty tư
doanh", đọc đi đọc mãi mới tiêu được hai tiếng đồng hồ, buổi sáng còn dài dằng dặc, ngã lưng một lát buổi trưa, quanh quẩn mãi vẫn chưa tới chiều. Trong
ngày ông ngại nhất hai bữa cơm, bởi lẽ như để chọc tức chềng vợ ông ngày nào cũng mua về khi thì khoanh chả quế vàng rộm khi thì nguyên một con vịt
tiềm thơm phức, óng ánh toàn những mỡ là mỡ. Hóa ra trong việc làm chủ, khó nhất là làm chủ cái ... dạ dày. Trong cả đám lục phủ tạng, nó là đức đòi hỏi
nhiều nhất, ương bướng nhất, chả thế mà lúc ngồi vào mâm, nó cứ bắt đôi mắt ông nhìn hau háu vào đĩa thịt, bát canh cá, mũi ông cứ phải huếch lên mà thu
nhận mùi thơm ngào ngạy từ những mó ăn ngoài túi tiền không bao giờ ông cho phép mình đụng đũa tới, Giữa nó và ông là một cuộc đấu tranh một mất một
còn, chưa xác định được ai thắng ai, mỗi lẩn ông đưa đũa gắp rau, nó cứ lái ông về đĩa thịt. A không nhá, miếng ăn là miềng nhục, thà chết còn hưn, ông cứ
lặng lẽ nhau rau muống, cà muối, dưa chua, toàn những thức ăn nhà Phật cả, miệng đắng ngắt nhưng vẫn làm ra vẻ ngon lành lắm. Vậy nhưng thằng dạ dày
đâu có buông tha ông dễ dàng như thế, nỗi bất mãn dần dần tỏa đi khắp mọi nơi, mắt ông mờ hẳn đi, hai đầu gối lúc nào cũng mỏi nhờ và tệ hại nhất là đêm
đêm rất khó ngủ, bụng cứ réo òng ọc, không làm sao nhắm mắt được.
Một hôm, quá lo lắng cho sức khỏe, ông cầm y bạ đi khám bệnh. Sau khi nghe ngóng, đo đạc đủ thứ trên người, ông bác sĩ tuyên bố: "Bác bị thiếu Ptotit".
Suýt nữa thì ông nổi cáu, người nội địa với nhau không dùng tiếng mẹ đẻ, cứ thích lòe tiếng Tây. Ông bác sĩ phải xin lỗi và nói lại một cách nôm na rằng nó
chính là cái bệnh... thiếu thịt. Láo toét, ông chửi thầm, ngày cưa ở trên rừng mấy tháng liền chẳng có tí thịt nào có thấy bệnh tật gì đâu, rồi các ông sư ở chùa
nữa, quanh năm chẳng có miếng thịt nào mà vẫn béo mập... già đấy thôi. Ông tự an ủi vậy và chiều hôm đó vợ ông đãi bạn bè nhân dịp lên lương, để giữ vững
được lời thề, ông cáo bệnh nằm trong phòng. Rõ thật không may, phòng ông liền ngay với bếp và phòng ăn, cho dù ông có bưng tai bịt mũi thì những mùi
xào nấu, mùi cá nướng, tiếng sao chặt thịt chan chát vẫn cứ vọng tới. Sau cùng bữa ăn cũng bắt đầu, chỉ nghe tiếng kéo ghế, tiếng người nói, mời mọc... ông
cũng đủ hình dung được ra các món ăn ngon lành bầy biện trên bàn. Trước tiên ắt phải có món cua tẩm bột rán là món tủ của vợ ông, rồi đến gà chiên cơ, cá
lóc bỏ lò, bê thui chấm tương gừng và sau cùng, ắt phải có một cái lẩu thập cẩm. Ông cứ nằm tưởng tượng ra cái màu sắc, hình dạng và mùi vị của từng món
vợ ông đãi khách cho tới khi cô con gái gõ cửa và lách người vào, đi tới sờ tay vào trán bố:
- Bố hết sốt rồi, bố ra ngồi với các bác ấy cho vui.
Ông dãy nãy:
- Thôi, thôi, tao mới dứt sốt đang còn mệt lắm, ngôì sao nổi.
- Hay con bưng các món vào đây cho bốn nhé.
Dạ dày của ông như mớn rên lên một tiếng vậy, nhưng không vẫn lắc đầu quầy quầy:
- Thôi, thôi, miệng đang đắng ngắt, ăn uống gì được.
Cô con gái đi rồi, một nỗi tuyệt vọng đau đớn đè nặng trên dạ dày ông. Nó tức giận sôi ùng ục làm ông phải nằm úp sấp, dán bụng xuống giường vũng không
trấn nổi cái cơn cồn cào đang làm đầu óc ông quay cuồng như người đang đi thuyền giữa biển bất ngờ gặp bão. Ông thiếp đi trong cơn đói và lúc choàng tỉnh
dậy trời đã tối, xung quanh yên ắng, tịnh không một tiếng động. Ông vén tay xem đồng hồ, trời đất đã quá nửa đêm, dạ dày lại réo ùng ục, cơn đói đẩy ông
xuống giường, bước ra phòng ngoài và đi tới chiệc tủ lạnh kê trong góc nhà như một người mộng du. Không, không phải là ông đâu, một người nào đó đã chi
phối mọi hành vi của ông, đã bắt ông giơ tay mở tủ lạnh và mắt sáng lên khi thấy trong cái bát to Trung quốc một con chim câu nhồi thịt, mỏ ngậm cọng
hành, chúi xuống nước hầm sen còn vương mấy cọng mộc nhỉ. Ông thaóng nghỉ tới con chim hôm nào nhìn ông lúc lắc đôi mắt hạt cườm rồi vút bay lên trời
cao, hôm đó ông mới nhận sổ lương hưu và mới xảy ra quyết định "chỉ ăn trong mức lương hưu" trong một phút bốc đồng muốn cất mình khỏi cái hàng ngày
đầy phiền tạp. Mới đó thôi mà đã một tháng rồi, một tháng ông bóp mồm bóp miệng để được thực thi cái quyền "làm chủ gia đình" của mình. Nhưng lúc này,
đối diện với bát chim hầm, ông không còn là ông nữa, một người khác đã nhập vào ông, không còn kịp đóng tủ lạnh, cứ đứng thế bốc từng miếng thịt chim.
Chao ôi, cái vị ngọt không bút nào tả nổi của nó xộc thẳng cuống dạ dày, lan đi các mạch máu như một luồng sinh lực đang ào ạt tràn vào cơ thể. Chính là lúc
cơn khoái đang lên tới độ cao nhất, tiếng kẹt cửa làm ông giật nẩy và mọi thứ trên đời bỗng dừng cả lại, ngay cả thời gian dường như cũng không trôi nữa.
Nhẹ nhàng như một con mèo, bà lướt tới trước mặt ông và cất tiếng cười, Ông bỗng lảo đảo như bị trúng gió, hai tay ôm ngực, ông nôn thốc nôn tháo tất cả
món chim câu nhồi thịt vừa rồi ông đã tọng vào dạ dày một cách vội vả.
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Hoàng tử của lòng em

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Cánh cửa mở ra, lập tức cái ồn ào ngoài phố ùa vào căn phòng kê vừa đúng hai cái giường cá nhân, một cái bàn, một cái ghế và một cây đàn. Tất nhiên, căn
phòng còn có thêm một thằng người, tùm hụp chăn che kín tới cổ, thò ra một cái đầu bù xù, dở thức dở ngủ và nếu cái người đẩy cửa bước vào kia không la
ầm lên, hẳn gã còn ngủ tiếp nữa.
"Dậy đi, tao vừa gặp vợ mày mặc xường xám, bám theo thằng chệt hói vào tiệm cơm tàu..."
Gã tỉnh cả ngủ, giương mắt giỏng tai như mèo ngửi thấy mùi chuột.
"Mày ngồi dậy đi chớ, tao cho mày con dao Thái Lan, tới ngay đó đâm chết con đĩ..."
Một cơn buồn mửa chợt dâng ngang cổ làm gã lúc lắc cái đầu và rướn người chặn giữ mọi thứ trong dạy dày lăm le muốn bật tung.
"Tao thật không ngờ con cợ mày son phấn vào nom lại ngon lành thế. Chỉ có điều những thứ ấy không dành cho mày nữa. Mày có biết không?"
Gã gục gặc đầu làm như cái tin động trời kia chẵng ăn nhằm gì nên gã lại nhắm mắt, chùm chăn kín mặt, không thèm để ý tới thằng cha đưa tin đang châng
hẩng đứng thộn giữa nhà. Rồi thấy chẳng làm cách nào có thể dựng dậy cái xác chết người ta chưa chôn, thằng cha kia bước thụt lùi ra khỏi phòng và sập cửa
cái rầm.
Cho dù bóng tối lại lấp đầy căn buồng, chiếc chăn lại kéo lên kín mặt và đôi mắt lại nhắm nghiền, gã vẫn thấy cái vẻ lạnh tanh, khinh khỉnh của vợ gã lúc
sáng khi nàng trở về lục lọi giấy tờ gì đó trong ngăn kéo bàn.
"Dậy đi, đồ thối thây, dậy đi tìm cho tôi tờ hộ khẩu..."
Thì ra nàng đang làm hồ sơ xin vào làm một Công ty nước ngoài. Vậy thì tờ hộ khẩu dù có nằm đâu cũng phải dốc ngược cả căn phòng này lên tìm cho ra.
May thay sau khi đã bới tung mọi thứ, gã tìm thấy nó lẫn trong một cái cặp giấy, gã chưa kịp mừng rỡ, nàng đã giật phắt nhét vào ví và hầm hầm bước ra khỏi
cửa để lại nơi mũi gã mùi nước hoa quen thuộc. Gã khép lại cánh cửa bị vợ gã mở toang, không thiết dọn dẹo những thứ vừa bị lục tung, trở lại giường nằm
sau khi nhận ra vợ gã quên không vứt lại tờ giấy bạc như mọi ngày cho gã ra đầu đường ăn một đĩa cơm sườn. Không sao cả, gã tự an ủi, lâu lân nhịn một bữa
cho sạch ruột? Gã leo lên giường trùm chăn, nhắm nghiền mắt, bịt chặt hai tai vẫn nhìn và nghe thấy cái thằng cha kia nhăn nhở xúi giục những lời bẩn thỉu.
Mệt ngoài vì những ý nghĩ u ám bám chặt trong đầu, gã vùng dậy, bụt mọc ngay giữa giường và rồi cái đàn treo trên tường từ lâu lắm không sờ tới, bất chợt
đập vào mắt làm gã ngẩn ngơ.
Than ôi đã có một thời lâu lắm, xa lắc lơ, cứ mỗi lần gã ôm đàn ra sân khấu, cả rừng người lại nổ tung những trận vỗ tay. Thế rồi như có phép lạ, cả ngàn
người đang la hét, múa may, bất chợt sững cả lại như đã chết hết khi gã búng tay vào dây đàn và từ trong cổ họng, tiếng hát cất lên như thể trong đó đang có
một cây viôlông réo rắt những âm thanh hút hồn người. Cứ sau mỗi bài hát, những người hâm mộ lại ào lên sân khấu cùng với những bó hoa tươi mơn mởn,
tranh nhau ấn vào tay gã. Nàng, tức vợ gã, cũng nằm trong số đó, nhưng ngoài bó hoa, nàng còn tặng hẳn một cái hôn, khiến cái bộ cảm quan nhạy bén của
gã thầm reo lên: "Trúng mánh, trúng mánh rồi..." Khi nàng buông ra để gã có thể nhìn rõ, gã bỗng sửng sốt vì vẻ đẹp hết sức quý phái hiếm thấy ở những cô
gái mà giọng hát của gã dễ dàng rũ rê vào những cuộc tình khách sạn. Cặp mắt đen láy, vầng trán mượt mà, miệng nhỏ xinh xinh nhoẻn cười lộ hé hàm răng
trắng muốt, tất cả đều toát ra trinh trắng, thuần khiết gái nhà lành, từ nhỏ được bảo vệ chặt chẽ bởi những luật lệ nghiêm khắc của các ông bố, bà mẹ làm nghề
dạy học. Gã cuống lên sợ vuột mất cơ may quý báu, rất nhanh, gã nhoẻn cười hết sức nhà nghề và nói khẽ vào tai nàng bằng cái giọng còn ngọt hơn cả lúc gã
hát:
"Anh sẽ hát một bài tặng riêng em..."
Và rồi khi cô gái trở về chỗ, ngước mắt nhìn với đôi mắt rưng rưng, gã uốn giọng cất tiếng hát:
"Hoàng tử của lòng em có cây đàn ghi ta..."
Cả ngàn con người như đã biến sạch khỏi cõi đời, trong mắt nàng chỉ còn thấy mỗi gã. "Hoàng tử của lòng em có cây đàn ghi ta... hoàng tử của lòng em có
trái tim bao la..." từng lời từng lời chảy vào lòng nàng cháy bỏng như dòng dung nham tuôn trào tàn phá mọi vật, xóa sạch mọi vết tích, thời gian như quay lại
điểm xuất phát để bắt đầu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên tình yêu của chàng và nàng và những trận vỗ tay. Tuy nhiên không giống các cuộc tình khác gã
thường kết thúc trên giường, bằng những phương cách tuyệt diệu có khi còn tài năng hơn cả giọng hát của gã, nàng đã trói gô được gã vào khuôn khổ gia
đình để uốn nắn, nhào nặn theo những khuôn mẫu của nàng. Không đầy ba năm sau, nàng đã làm một cuộc cách mạng trong khuôn khổ gia đình, ở cái vị thế
bị đảo ngược, gã biến đổi "sâu sắc và triệt để" tới mức râu gã không chịu mọc nữa, mặt gã nhẵn nhụi, và một hôm vợ hắn kinh hoàng bắt gặp gã đang ngồi
trước bàn trang điểm của nàng... đánh phấn và kẻ lông mày như một cô gái sắp đi chơi với người yêu. Nàng chỉ mới trợn mắt lên vì kinh ngạc, gã đã cuống
lên, run bần bật như tên đầy tớ bị chủ nhà bắt gặp đang ăn vụng. Và rồi nàng còn muốn té xỉu khi nhận thấy ngực gã nổi lên lùm lùm một cặp ... vú đàn bà.
Từ bữa đó vợ gã bắt gả ngủ riêng, không cho động tới người nàng. Gã chấp nhận tình trạng ly thân hết sức thích thú cứ như được giải phóng khỏi kìm kẹo
vậy. Tuy nhiên khi quan hệ vợ chồng. Cho dù bị khinh miệt mắng mỏ, và đôi khi bị đánh đập nữa, sự thực gã vẫn còn ghen, tức là vẫn còn yêu, điều sơ đẳng
trong tình trường, phải không nào? Đã bao nhiêu đêm gã thức trắng, mắt trừng trừng nhìn sang chiếc giường trống vắng cửa vợ gã kê kế bên, tưởng tượng ra
những cảnh tượng vợ gã đang trải qua tại một nơi nào đó trời cũng chẳng biết, để rồi sáng hôm sau về nhà, mặt mũi nàng xưng xỉa lên và nếu gã dám đặt câu
hỏi "Đêm hôm qua cô đi đâu", lập tức nàng sẽ sừng sộ: "Anh hỏi làm gì", gã sẽ cúi mặt xuống phản kháng bằng một tiếng thở dài khe khẽ, rồi cố rặn ra một
nụ cười: "Em muốn ăn gì để anh đi nấu". Chao ôi, như thế gọi là sống ấy ư, chết đi còn hơn - không biết bao nhiêu lần gã thốt lên như thế và cũng không biết
bao nhiêu lần gã tính làm một cái gì đó đập tan nỗi ê chề, nhục nhã gã phải gánh chịu trong cái gia đình khốn khổ của gã, vậy nhưng như có một ma lực nào
đó kìm giữ lại, gã lại như con ngựa già, cúi đầu xuống kéo lê cái nếp thường ngày khổ đau và nặng nhọc.
Vậy nhưng sáng nay dường như có cái gì đó nổ tung trong con người gã. Con dao Thái Lan và loáng thoáng bên tai lời gã hàng xóm cứ như những con ong
đốt vào lòng gã: "Tao cho mày con dao, tới tiệm cơm tàu đâm chết con đĩ". Mắt gã quắc lên, hất tung cái chăn khỏi người, gã chồm dậy và lẽ ra gã với tay lấy
con dao sáng quắt đang nằm giữa bàn, gã lại ngoài người tới với lấy cây đàn. Lâu lắm rồi gã không sờ tới nó, người bạn đồng hành tin vậy và thân thiết biết
bao. Thật nằm mơ cũng không thể tưởng tượng được gã và cái đàn lại đến nông nỗi này. Vì sao, vì sao vậy? Phải chăng lại cái bài hát định mệnh kia đã đưa
cô nàng liêu trai ấy tới lại gã? Không, không hẳn là như thế, công bằng mà nói, trong những năm tháng tuyệt diệu của tình yêu, nàng đã đem tới cho gã đủ
các sắc màu, các cung bậc của nghệ thuật yêu đến độ có lần gã đã phải thốt lên: "Một đêm ở với em bằng một năm ở với tất cả các cô gái mà anh đã gặp".
Lúc đó nàng không hề ghen, ngược lại, nàng còn bày thêm trò cho gã thụ hưởng để thưởng cho câu nói gã khen tặng nàng. Không, nàng chẳng có lỗi gì khi
nhận chìm gã lẫn giọn hát tuyệt diệu của gã vào những lạc thú của tình yêu. Có lẽ cái lỗi duy nhất của nàng chính là chưa cho gã nếm đủ mùi nhục nhã, chưa
cho gã chịu hết đắng cay để gã có thể lấy lại giọng hát đã mất.
Một cảm giác rạo rực rất kỳ lạ tràn ngập quả tim lâu nay vốn lười nhác của gã. Gã mở cửa, ôm cây đàn, thất thểu bước đi trên phố như một kẻ mộng du.
"Tiệm cơm tàu đầu phố..." Anh đi tới với em đây, anh tới với em không nhằm nài nỉ tình yêu đã mất, anh tới em chỉ để đòi sự đắng cay và nhục nhã em còn
thiếu chưa trút hết lên đầu anh. Vừa đi gã vừa lầm bầm trong miệng khiến những người ở tiệm cơm tàu tưởng gã ăn xin nên cứ để mặc cho gã bước vào. Kia
rồi, nàng đang ngồi nơi bàn kia với một thằng chệt hói đầu. Như một kẻ tội đồ bước tới máy chém, gã đi tới bên nàng, búng nhẹ vào dây đàn. Vừa nhận ra gã,
nàng đã nhăn mặt lại, ghê tởm như nhìn thất một xác chết biết đi. Nàng mở ví lấy khăn mặt bịt mũi, rút ra tờ giấy bạc, quăng vào mặt gã: "Thôi đi chỗ khác,
khỏi hát...". Gã cung kính cầm tờ giấy bạc, cẩn thận nhét túi, rồi nhơ có đồng nhập, gã thoắt biến thành người khác, dửng dưng với nỗi nhục nhã đang gánh
chịu, với những con người đang tò mò vây quanh, gã hít một hơi căng đầy lồng ngực rồi từ thẳm sâu trong lòng gã, tiếng hát cất lên: "Hoàng tử của lòng em
có cây đàn ghi ta... Hoàng tử của lòng em có tấm lòng bao la..."
Chao ôi lâu lắm, lâu lắm rồi người ta mới lại được nghe một giọng hát cao vút, hớp hồn người như đến thế, dường như cây đàn thụ cầm trong cổ họng gã bấy
lâu nay im tiếng, nay bỗng lại cất lên với biết bao nhiêu cảm xúc bị dồn nén nay được thoát ra qua cổ họng một con thú bị thương. Tiệm cơm tàu đang ồn ào
chợt im phắc, tất cả mọi người bị tiếng hát hớp hồn đều bất động như đã hóa đá. Riêng có gã đàn ông ngồi với nàng là tỉnh táo hơn cả. Gã gắp vào bát nàng
một cái lườn gà và dục: "Kìa, em ăn đi chớ, nguội hết cả rồi..."
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Giai điệu nhớ

lamtruyen.com
Truyện ngắn
ở nhạc viện ra. Đông Xuân chạy thoăn thoắt đến sà vào lòng tôi, líu lo: mẹ ơi, con đàn bản nhạc này của Mô-da được cô cho điểm
mười. Cô khen bàn tay con tròn lắm. Con khum khum bàn tay, chúm chím đôi môi đỏ, chân nhún nhảy làm cho chiếc áo đầm xòe ra
giống như cô công con. Lần nào cũng vậy, tôi ôm ghì con vào lòng, hôn khắp lên tốc, lên mắt và hai bàn tay búp măng của con lòng
rạo rực niềm hạnh phúc lớn lao. Cả một ngày làm việc mệt nhọc của nghề phóng viên thời sự chỉ còn là khoảng khắc dịu êm man mác.
Đường Nguyễn Du chiều mùa hè rộn tiếng ve, nắng vàng xuyên qua kỹ lá dệt những chùm hoa tròn như trứng gà lung linh trên mặt
đường. Lá me bay rắc những ánh vàng nhỏ li ti trên những mái tóc học trò tí hon của trường nhạc đang ào ra như một đàn bướm. Trong
khu cảnh ấm áp đầy quyến rũ của buổi chiều tà, tôi đi đón con bằng cả vòng tay lớn của tất cả những người mẹ có con cùng một lứa
tuổi tuyệt diệu, tuổi lên bảy của những cháu bé chào đời trong tháng lịch sử.
Ngồi phía sau xe đạp, Đông Xuân vuốt tấm lưng ướt mồ hôi của tôi. Bàn tay thiên thần nhỏ xíu rối rít thực hiện một cố gắng lớn, xua
tan cơn mệt nhọc của mẹ. Nhiều năm qua, từ khi chiếc ghế mây gắn phía trước xe đạp đã trở thành chật chội. Đông Xuân là làn hơi ấm
sau lưng tôi. Cũng như trước đây, tháng cuối cùng trong chiến khu, khi con còn đỏ hỏn, tôi phải địu trên lưng, làn hơi ấm mỏng manh
ấy đã tiếp sức cho mẹ qua nhiều chặng đường hành quân. Con tôi sinh ra trong chiến dịch Hồ Chí Minh, đầy tháng ở Sài Gòn vừa giải
phóng. Ngày đầy tháng mới chính thức đặt tên là Đông Xuân. Ba cháu nhất quyết đặt tên Đông Xuân để đánh dấu chiến dịch cuối
cùng của cuộc kháng chiến bất chấp quy ước giữa hai chúng tôi: hễ là con gái thì đặt tên là quyền của mẹ. Ngày đó, Đông Xuân chỉ
nặng bằng cái ruột tượng gạo nhỏ của tôi, vậy mà nay đã hai mươi kí-lô, cao một mét hai, lần nào lên dốc Hai Bà Trưng hai mẹ con
cũng phải xuống xe dẫn bộ.
- Mẹ ơi, mẹ
- Dạ. Mẹ nghe đây
- Mẹ cứ dạ hoài. Con lớn rồi, con biết mẹ phải ơi mới đúng
Tôi phải ơi thật rõ, Đông Xuân mới chịu nói tiếp:
- Bữa nay mẹ phải giữ lời hứa với con. Mẹ chở con đi thăm ba, con nhớ ba... ngàn năm rồi
Tôi suýt bật cười nhưng kịp kềm lại được. Gần đây, Đông Xuân ráo riết đòi đi thăm ba. Nó thường nói: một trăm năm rồi ba không ngủ
với con. Con nhớ ba một ngàn năm. Đông Xuân học lớp một, vừa đếm được chính xác tới số hai mươi bằng cách xòe cả hai bàn tay và
hai bàn chân ra. Cháu mới đọc được số trang và số thứ tự bài học. Tất cả các con số đều không liên quan gì đến một trăm năm, một
ngàn năm. Vậy mà trong tháng hè vừa qua cháu đã lặp đi lặp lại nhiều lần con số tưởng tượng đó, đi liền với một nỗi nhớ. Nỗi nhớ da
diết đến từ cái hôm cháu đàn bản dân cao Lit-va cho bạn tôi là một nhạc sĩ nghe. Bài dân ca trầm buồn có sức quyến rũ đến nỗi chỉ với
đôi bàn tay non nớt của Đông Xuân cũng thuyết phục được người nhạc sĩ. Anh ngồi vào ghế của Đông Xuân, chú cháu cùng nhau trau
chuốt từng nốt nhạc. Anh nhận ra cháu có nhạc cảm rất tốt, nhưng không hiểu sao, vẫn chưa diễn đạt được tâm tình của bản nhạc. Suy
nghĩ hồi lâu, anh nói:
- Đoạn này buồn lắm. Cháu đàn chậm lại đi, chậm nữa, êm hơn nữa. Giống như cháu đang nhớ. à, phải rồi, cháu đang nhớ ba. Những
nốtb nhạc này cháu đàn cho ba nghe, cho một mình ba cháu nghe.
Tôi thấy Đông Xuân co người lại, lưng gù xuống, tai nghiêng sát phím đàn, tóc xòe dồn sang một bên vai. Từ mười ngón tay cháu ấn
nhẹ lên phím đàn, bật ra những tiếng nhạc sâu vời vợi nỗi nhớ thương da diết. Nghe con đàn, tôi cứ ngỡ là tiếng đàn của cô giáo hôm
nào. Lần đầu tiên, cô kiểm tra nhạc cảm của cháu, cô đàn nhẹ, êm như ru, cháu lặng nghe chăm chú. Nhưng khi cô hỏi: "Con nghe thế
nào. Bài này vui hay buồn?" thì Đông Xuân thản nhiên trả lời:
- Thưa cô, vui
Cô giáo sửng sốt
- Con nói sao? Bài này mà con hiểu là vui thì chết cô rồi!
Cháu chỉ lắc đầu không hiểu
Cô giáo liền đàn tiếp một bản nhạc múa tiết tấu thật rộn ràng. Cháu ngồi không yên, cả thân mình nhún nhảy theo tiếng nhạc. Cô hỏi
lại:
- Còn bài này, con thấy vui hay buồn?
- Thưa cô, bài này vui hơn bài trước
Nhạc sĩ ngồi lặng im nghe tôi kể, nét mặt thoáng lo âu. Lát sau, anh nói, mắt đỏ hoe
- Giá như chị kể chuyện này trước thì tôi đã tránh được cử chỉ vô tình đối với cháu. Tôi đã gợi cho cháu nỗi nhớ. Nỗi buồn, trong khi
cháu chỉ biết vui và vui hơn. Đành rằng trong nghề nhạc, cần có những xúc cảm sớm hơn lứa, nhưng dầu sao tôi cũng nghĩ rằng người
lớn không nên tập cho con cháu mình sớm biết buồn.
Anh nhạc sĩ ra về, tôi ngồi thừ một lúc lâu. Hóa ra, lâu nay tôi chưa bao giờ nghĩ về điều người nhạc sĩ nói. Lắm lúc tôi còn muốn con
đàn được nhiều bản nhạc buồn hơn nữa, muốn gieo vào lòng con nỗi nhớ của chính tôi. Tôi muốn dùng tiếng đàn của con để an ủi,
vuốt ve nỗi cô đơn thầm kín của mình. Và giờ đây, nỗi ân hận bắt đầu giày vò tôi...
Thấy tôi ngồi lặng lẽ, Đông Xuân chạy đến ôm cổ tôi hôn như dòng bão lên mặt, lên cổ tôi, cháu vẫn thường hôn tôi như thế
- Mẹ ơi, mẹ. Mẹ đang nhớ ba con phải không?
Tôi miễn cưỡng gật đầu. Đông Xuân ôm siết tôi hơn nữa, nó nói nhỏ vào tai tôi:
- Mẹ ơi, con nhớ ba một trăm lần. Mẹ hứa với con đi
- Con muốn mẹ hứa điều gì?
- Mẹ hứa cho con đi thăm ba con đi
- Nhưng con phải học giỏi, học điểm mười
- Con xin hứa. Mẹ hứa đi
Đông Xuân nói dõng dạc, điệu bộ như chiến nhận lệnh. (Ba nó vẫn dạy như vậy) và đưa một ngón tay trỏ nhỏ xíu ngoéo vào ngón tay
tôi. Khi Đông Xuân học nhạc, điểm mười như là một quy ước của hai mẹ con. Con được điểm mười, mẹ phải thực hiện một lời hứa. Vì
những lời hứa, Đông Xuân đã làm việc như một người lớn, cần mẫn tập luyện tiếng đàn theo yêu cầu của cô giáo. Lắm lúc, tôi đau
nhói trong tim vì đầu ngón tay của con sưng lên hoặc bật máu do cố gắng quá sức. Con thi đậu vào trường nhạc, tôi mua cho nó chiếc
áo đầm do chính nó chọn. Con gái tôi đã chọn đúng chiếc áo mà tôi thích, chiếc áo điểm những bông hoa cà màu tím li ti, khiêm tốn.
Chiếc áo đó đắt gấp ba lần lương tháng của tôi, bằng đúng món tiền nhuận bút của một truyện ngắn đăng trong số Tết. Con mê chiếc
áo đầm mới đến nỗi đòi mặc luôn trong giấc ngủ say, tôi đã soi vào gương và nhận ra hai gò má tôi ửng chín, mắt tôi long lanh hơn,
mặc dù, bộ quần áo ký giả của tòa soạn tặng tôi đã sờn, bạc phai trong những chuyến đi viết xa thành phố. Tôi trẻ ra vì giữ được lời hứa
với con...
Thế mà lần này, khi ngoéo tay con hứa sẽ đưa nó thăm ba, tôi ảm thấy xấu hổ, tôi không dám nhìn thẳng vào mặt con. Đông Xuân
hoàn toàn không biết tâm trạng của mẹ. Nó mừng rỡ, nhún nhảy như một con chim sáo. Nó ngồi lên đàn và chơi bản dân ca Lit-va
đúng như người nhạc sĩ bạn tôi đã đàn, để khẳng định là đang nhớ ba. Cử chỉ yêu thương ba da diết của con đối với ba nó làm tôi mất
ngủ trọn đêm đó. Tôi không viết nổi một chữ nào bài báo cho ngày hôm sau.
Sáng ra, tôi dối tòa soạn là đi lấy tài liệu ở một cơ sở, nhưng thật ra là đi lang thang trên đường phố. ý thức còn lại duy nhất của tôi là
giữ không để xảy ra tai nạn xe cộ. Ngoài ra, tôi phó mặc, cứ để mình nổi trôi theo dòng đời, trong một ngày. Ngờ đâu, số phận dửng
dưng ủng hộ cho đến bốn giờ chiều, cái giờ hạnh phúc nhất của tôi, cái giờ được đón Đông Xuân trong vòng tay.
Như vậy là thêm một lần nữa Đông Xuân thỏa mãn điều kiện của tôi, đạt điểm mười. Con đã đạt được mục đích. Sáng sớm hôm nay,
Đông Xuân bậm môi dọa tôi thật sự. Mẹ không cho con đi thăm ba, con sẽ nhịn ăn, con không ngủ với mẹ nữa. Con chỉ còn chưa dám
nói lời nặng nề nhất: con không tin mẹ. Chỉ cần mấy tiếng phẫn nộ đó của con, tôi sẽ không sống nổi.
Vừa gò lưng đạp xe, tôi vừa nghĩ cách thoát khỏi sự sụp đổ lòng tin trong con
- Đông Xuân à, con thấy mồ hôi lưng mẹ còn nhiều không?
- Dạ, mồ hôi ướt áo mẹ đây nè
- Hôm này mẹ mệt quá mà ba con thì ở xa. Để sáng mai chủ nhật mẹ mượn xe honda của dì chở con đi cho nhanh, con chịu không?
Còn bây giờ mẹ đưa con đi chơi bến Nhà Rồng
- Không. Con không đi bến Nhà Rồng
- Thì mẹ đưa con đi cậu lạc bộ...
- Không! Mẹ phải giữ lời hứa
Tôi biết Đông Xuân sẽ bật khóc một khi nó nói giọng cộc lốc như vậy. Phía sau xe dùng dằn mạnh làm tôi lảo đảo suýt chạm vào một
chiếc xe đạp cùng chiều. Hai bàn tay nhỏ xíu của Đông Xuân rời khỏi hông tôi. Làn hơi ấm từ bàn tay con biến đi đột ngột. Một cảm
giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng khiến tôi như đang lên cơn sốt rét. Đã đến nước này thì tôi không còn dám trái ý con nữa.
- Thôi được, mẹ xin giữ lời hứa. Nhưng con phải ráng chịu mệt, khi nào con khát thì mẹ cho con uống nước mía dọc đường.
- Hoan hô mẹ. Con không khát đâu
Đông Xuân reo lên và lập tức đưa ngón tay trỏ cong cong trước ngực tôi. Tôi ngoéo tay con chật chặt, lòng dặn lòng phải can đảm lên.
Và tôi cố sức đạp trong nắng chiều, tim đập liên hồi, trong lòng như có lửa đốt. Xa lộ về chiều xe cộ hối hả như chạy đua với bóng đêm
Chiếc xe cũ kỹ của tôi cố gắng như một thân sậy mềm trước dông bão của tốc độ. Tôi kiên nhẫn đạp xe không ngoài mục đích duy
nhất, vì con.
Trước đây, mẹ con tôi đi chơi bằng xe honda, người lái là ba của Đông Xuân. Chúng tôi có một chiếc xe bán hóa giá, phần thưởng
dành cho người thương binh bị hư một chân. Anh bị thương vào phần mềm, mảnh đạn chạm dây thần kinh làm cho teo cơ, chân trái cứ
nhỏ dần và khi anh về thành phố, nó thêm chứng run rẩy. Anh rất buồn sợ mình đứng không vững trên chính đôi chân của mình. Chiếc
xe honda là nguồn an ủi đối với mẹ con tôi, vì nó có thể đưa cả ba chúng tôi đi chơi sáng chủ nhật. Với anh, chiếc xe bình dị ấy cũng
trở thành nỗi băn khoăn. Anh bảo rằng, nó là chỗ nương tựa của tính biếng nhác, đôi chân anh có thể vì nó mà teo thêm. Nhưng dầu
sao, những chuyến đi sáng chủ nhật ra ngoại ô của anh và mẹ con tôi là vô giá. Anh đặc biệt thích thiên nhiên theo một kiểu riêng. Qua
những cánh đồng để sống với cố hương và đến những khu vườn để sống lại đời sống chiến khu. Cuộc đời bộ đội trong quá khứ cứ sống
đường hoàng trong anh cả ngày lẫn đêm của hiện tại. Hòa bình đã ba năm mà bộ "xanh-tuya" đi rừng anh vẫn còn giữ. Cái bình toang,
cái ca, cái đèn chai "an-côn" được anh trân trọng như hiện vật bảo tàng truyền thống, anh chỉ dành cho con gái. Những buổi đi ngoại ô
của chúng tôi thật thú vị. Khi thì về đất Củ Chi loang lỗ hố bom. Khi thì đi vùng căn cứ Sáu Xã ở Thủ Đức. Lần đi chơi Thủ Đức Đông
Xuân mới ba tuổi, thích ngồi trên bình xăng phía trước, tay luôn chỉ trỏ, miệng không ngớt bi bô:
- Ba ơi ba, cái bánh gì đỏ giống trứng gà quá?
- Không phải bánh đâu con, mặt trời mọc đó, đẹp không con?
- Đẹp quá. Mặt trời ở... số mấy hả ba?
- Ơ... cô bé cưng của ba. Mặt trời không có số nhà. Ông mặt trời ở cuối xa lộ này, ở trong rừng Sác xa lắm
Anh hơi lúng túng trước câu hỏi ngộ nghĩnh của con rồi cuối cùng cũng tìm được một cách trả lời theo sở thích của cả hai. Lần đầu tiên
nghe tiếng rừng Sác, Đông Xuân hỏi huyên thuyên. Anh phải vận dụng ngôn ngữ trẻ thơ một cách khó nhọc để nói với nó. Anh lúng
túng tìm từng lời để diễn tả lại một cách đơn giản nhất, những ngày oanh liệt của anh, cái thời làm chiến sĩ đặc công trên địa bàn sông
lạch rừng ngập mặn. Đông Xuân nghe chăm chú, thỉnh thoảng nó gật đầu và lắc đầu để rồi sau cùng thì đòi đi chơi rừng Sác
Sinh nhật lần thứ năm, Đông Xuân thổi phụt một cái tắt cả năm ngọn nến. Anh thưởng cho con một buổi đi chơi vườn măng cụt Lát
Thiêu. Đi chơ lần này, anh chuẩn bị cho con một ngày sống dã chiến thật sự. Có cả "tăng", võng, lương khô, bình toong nước. Hai cha
con đu đưa trên võng căng trong vườn măng tím mọng, song ca rất khớp bản "Nhạc rừng". Cúc cu, chim rừng ca trong nắng. Im nghe
ve rừng kêu miên man. Tiếng ve rộn lên trong vườn như đệm nhạc cho cha con anh hát. Anh hỏi Đông Xuân
- Đồng chí bộ đội của bá có nghe tiếng con gì kêu đó không?
- Con biết rồi, tiếng con dế
- ý ẹ, trật rồi - Anh ôm con, cười chảy cả nước mắt - Đó là tiếng ve chớ con. Im nghe ve rừng kêu miên man. Đó là ve, là nhạc ve đó
con
- Con nhớ rồi... nhạc ve.. kêu miên man
- Hoan hô đồng chí bộ đội của ba
Anh và con chuyển sang hát "Hành quân xa". Cha con đi đều bước. Cha khập khiễng đi trước, tay khuỳnh rộng ra như đang hành
quân thật. Con nắm thắt lưng cha, cố bước thật cao chân hát thật to:
- Đời chúng ta đâu có giậc "mà" ta cứ đi
- ấy chết! Con lại hát trật rồi. Phải như vầy mới đúng - Anh quay người lại đối diện với con tay bắt nhịp, miệng hát rõ từng lời: Đời
chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi. Là ta cứ đi chớ con
- Mà chớ ba. Bạn con cũng hát mà không hà
- Nếu hát là mà, thì cả bạn con cũng sai
Anh ngồi im nghĩ ngợi hồi lâu, trang nghiêm trước con gái năm tuổi. Anh định nói gì với nó nhưng chưa tìm được lời lẽ thích hợp,
đành phải im lặng. Vốn là một chiến sĩ đặc công, anh biết làm chủ mọi xúc cảm. Anh kể cho mẹ con tôi nghe những ngày chiến đấu,
trong trận đốt kho xăng Nhà Bè. Anh đã từng xâm nhập vào sát rào gai, nằm im trong ánh đèn pha, nín thở trước những kíp mìn cực
chạy. Đã từng lặn ngụp trong nước mặn, chịu khát và đói, mắt trừng trừng về phía những bồn xăng, bụng cồn cào nỗi đau na-pan, nỗi
đau cháy rát của những em bé, những bà mẹ bị đốt cháy lần áo, da thịt đang réo sôi. Lửa cực nóng luyện anh và đồng đội thành thép
nguội. Anh nằm đó, với quyết tâm thiên niên kỷ, miễn là thời gian dành cho anh một giây phút nào đó vắng bóng tuần tra, để anh cắt
rào gai mở hướng tấn công. Giây phút đắt giá nhất trong cuộc đời đã đến. Anh mở được đột phá khẩu, lao vào con đường đã thuộc
lòng trên sa bàn và đến với chiến thắng. Ngọn lửa phụt lên, đó là tất cả trái tim anh, những gì còn lại đều vô nghĩa, kể cả thân xác anh
và đồng đội. Anh phải mất nhiều ngày trầm mình trong nước mặn để rút về hậu cứ. Đồng đội anh có quá nửa chết vì đạn nhọn, vì sức
ép, vì cá sấu. Nhưng không ai nghĩ tới điều nhỏ mọn ấy, họ hy sinh cho cái lớn hơn.
Nói về những kỷ niệm, anh coi tôi như là Đông Xuân, với khát vọng qua tôi truyền đạt tới Đông Xuân, tới thế hệ của con. Nhưng Đông
Xuân lớn lên trong hòa bình, chiến tranh đối với con là xa lạ. Con vẫn cứ thờ ơ trước trăn trở của cha. Đối với con, đâu có giặc là ta cứ
đi hay mà ta cứ đi chỉ là lời hát không cần rõ nghĩa. Anh nhăn nhó âu lo và vì như thế. Đó là nỗi ưu tư của anh, nỗi ưu tư thường trực:
Anh chỉ biết đối thoại với con, anh vui mừng trước những ý ban sơ của con nhưng lắm lúc anh sốt ruột trước sự ngây thơ đáng yêu của
con. Tôi đã phê bình gay gắt sự nhầm lẫn về tâm lý lứa tuổi của anh, đôi khi tôi cho là anh bị bệnh tâm thần phân liệt. Anh nhận ra
ngay điều tôi nói bằng lý trí sáng suốt. Nhưng trái tim anh, tình cảm anh thì chống lại. Bao giờ anh cũng muốn thế hệ sau anh phải kết
thừa truyền thống đấu tranh cách mạng như anh, phải dứt khoát quyết liệt với kẻ thù. Anh không chịu được sữ ớm ỡ. Và thật trứ trêu,
anh vẫn không phân tích vì sao Đông Xuân, tuy rất yêu cha, yêu bộ đội, nhưng cũng sẵn sàng nhầm lẫn, sẵn sàng đặt ra trước anh
những phản đề. Nhiều lần tôi gợi ý với anh, thôi đừng làm tình làm tội con nữa. Không nên bắt con chia sẻ tâm trạng se thắt của người
lớn. Anh dễ dàng đồng tình nhưng sự thư thái trong tâm hồn anh không kéo dài được lâu. Khi nghe tin bọn Trung Quốc phát động di
tản, chúng nổ súng chiếm hòn Thổ Chu, chúng đánh qua Biên Giới Việt Nam, là anh không chịu nổi. Anh đòi trở về với binh chủng
đặc công. Anh muốn đánh bọn Pôn Pốt ngay tại giường ngủ của Hoàng Hậu Cốt-xa-mắc ở Hoàng cung cham-ca-Non. Mọi nguyện
vọng của anh đều chưa được thỏa mãn. Người ta trân trọng tấm lòng chiến sĩ của anh nhưng dẫu sao cũng thấy nó hơi quá đáng, có
phần lên gân. Nhất là trong trường hợp anh đang mang trong bắp chân một viên đạn, cần phải mổ, ít ra cũng phải mất vài tháng trở lại
bệnh viện và nhiều tháng luyện tập. Khi vết mổ đã lành, tuy cái chân vẫn còn khập khiễng, anh vẫn khẳng định mình có thể hành quân
xa được. Vẫn với mơ ước đâu có giặc là ta cứ đi. Thế mà Đông Xuân vô tư lự đã hát rằng đâu có giặc "mà" ta cứ đi. Anh bắt bẻ con gái
một cách vô lý làm cho nó ngơ ngác tưởng như mình có lỗi. Mắt Đông Xuân tròn xoe nhìn ba, đầu lắc lia, không hiểu vì sao ba giận.
Hai cha con thôi hát, chuyển sang bữa ăn dã chiến, cơm vắt với muối mè. So với bữa cơm dã chiến trước đây, có thêm món chả lụa và
tôm chiên bột. Đang ăn thì trời đổ mưa, phải chuyển vô chòi giữa vườn măng. Anh đưa con ngồi trên ghế đẩu. Đông Xuân ngồi một
cách lúng túng. Nó kêu lên sợ sệt.
- Ba ơi ba, cái ghế này kỳ cục quá, con khống biết dựa vào đâu, con sợ té lắm
Đông Xuân ngửa lưng ra sau tìm một chỗ dựa, suýt chút nữa thì chiếc ghế ngã, nếu anh không kẹp đưa cánh tay ra đỡ lưng nó. Câu
nói của con làm anh nhăn nhó, mày cau, môi mím lại. Rán lắm anh mới cười, nụ cười bị lệch một bên. Anh bế con giọng đầy mỉa mai:
- Đồng chí bộ đội của ba. Con phải tập ngồi ghế không có chỗ dựa cho quen. Ghế của bộ đội không có chỗ dựa con à. Lưng bộ đội
đâu cần ghế dựa hả con.
Đông Xuân ngơ ngác gật đầu. Lần này nó không dám cãi ba, chỉ cố gắng tỏ ra hiểu biết, miệng chúm chím cười. Nụ cười trẻ thơ sáng
trưng làm anh tươi tỉnh ngay. Anh ôm ghì lấy con rồi cù lét nó, tung nó lên làm nó thích chí cười khanh khách:
- ái ui! Ba thả con xuống đi - Đông Xuân kêu lên rồi chạy sang tôi. Nó nói nhỏ vào tai tôi
- Mẹ ơi mẹ, cho con đi...
Nó nói thật nhỏ tiếng cuối, mắt dáo dác tìm chỗ
- Con tìm gì đó Đông Xuân
- Ba ơi, "toa lét" ở đâu?
- Con tiểu phải không, đi với mẹ
Tôi dắt con ra vườn, chỉ một chỗ đất trống còn ướt nước mưa. Đông Xuân ngồi xuống rồi lại đứng lên. Nó nói như van lơn:
- Mẹ ơi, không có "bô" làm sao?
Nghe con nói, anh bật cười, cười đến chảy nước mắt. Tôi cũng buồn cười về một nét mới xuất hiện trong đời sống tâm lý con gái. Nó
lớn lên trong tiện nghi, không quen đời sống dã chiến, chưa hề tiểu tiện ngoài toa lét. Cả anh và tôi đều bị bất ngờ về điều này. Giá như
ai đó trong lứa chúng tôi phạm lỗi sính tiện nghi thì đáng trách vô cùng. Nhưng con cái chúng ta thì đáng yt bao. Chúng cần có cuộc
sống đầy đủ tiện nghi hơn thế hệ trước. Tôi ôm con, hôn lên tóc nó. Nhưng anh thì khác. Tuy không giận con, nhưng anh cười chế giễu
con gái hoàn toàn không đúng lúc:
- Đồng chí bộ đội của ba. Muốn làm bộ đội phải biết....chỉ cần có gốc cây là được
- Nhưng con sợ rắn lắm
- Bộ đội không sợ rắn, chỉ có rắn mới sợ bộ đội thôi. Đồng ý với ba chưa nào?
Đông Xuân sẽ gật đầu
Đêm đó, khi Đông Xuân đã ngủ, anh nói chuyện về nó rất lâu. Đầu tiên, anh trách tôi không có ý thức theo dõi tâm tính của con, để
con phát triển theo tự nhiện. Đến một lúc nào đó con sẽ trở thành con người quên truyền thống. Tôi hoàn toàn đồng ý với anh về mục
đích giáo dục con, nhưng nói thẳng rằng phương pháp của anh là vội vàng, gượng ép. Anh ngồi im suy nghĩ thật lâu rồi khuyên tôi cố
thu xếp cho con về ngoại trong mùa hè để nó biết đời sống nông thôn, đó là cách tập cho con gần với lao động, gần với thiên nhiên, với
tập quán. Tắt đèn đã lâu nhưng anh không ngủ. Anh ngồi dậy, vấn thuốc sâu kèn, hút liên miên. Tôi vẫn thao thức theo anh.
- Anh tính như vầy, em đồng ý không?
- Anh tính điều gì?
- Anh sẽ ra mặt trận. Mặt trận biên giới đã mở rồi. ở đó, anh cống hiến được nhiều hơn ở đây. Một mình em nuôi con.
- Chừng nào anh đi?
- Anh muốn đi càng sớm càng hay. Em sẽ cực hơn bây giờ
- Chỉ ngại cái chấn vừa mổ của anh
- Anh đã đi vững bằng đôi chân của mình rồi. Chỉ lo em sẽ cực hơn. Vắng anh, em sẽ phải đảm đương nhiều việc hơn. Anh tính cho
con học đàn piano. Gặp chỗ nào có đàn nó cũng sà vô. Nó thèm đàn hơn cả quà bánh.
- Nhưng học đàn thì phải có đàn, làm sao mua nổi?
- Anh tính rồi, mình bán chiếc xe honda và ít đồ đạc, gom góp lại đủ mua. Bạn anh, nhạc sĩ, nó nói đàn đang rẻ. Con nó ham đàn hát,
tâm hồn nó phong phú thêm. Để nó khô khan như thế hệ chúng mình tội nghiệp. Chỉ sợ em phải đạp xe, gầy mòn thêm.
Không sợ. Vì con, em có thể chịu cực hơn nữa. Gầy yếu cơ thể tạm thời không đáng sợ so với gầy yếu tâm hồn - Tôi định nói thật
nhiều để anh yên tâm đi mặt trận nhưng cổ tôi nghèn nghẹn. Tôi không dám nói tiếp vì sợ bật ra tiếng khóc. Phải thú thật rằng hơn bất
cứ lúc nào tôi sợ vắng anh và cũng sợ anh không có tôi.
Anh đi ít lâu sau, việc mua đàn mới ổn thỏa, thành ra anh vẫn chưa thấy mặt cây đàn, vẫn chưa nghe tiếng đàn non nớt đầu tiên của
con. Tôi phải viết những bức thư thật dài ra biên giới nói về việc dạy con theo ý anh, về năng khiếu của con. Đặc biệt là sự đam mê.
Mười ngón tay xinh xắn mải miết tập đàn cả trong giấc ngủ. Anh viết thư về mừng rối rít. Anh không sao hiểu được Đông Xuân có
năng khiếu âm nhạc. Anh cười trong thư: anh thì chăn trâu, kéo cày, còn em thì cạo mủ cao su vậy mà con có "gien" đàn piano, thật lạ.
Có lẽ tại đời mình sống lạc quan, cứ hát hò luôn miệng cho nên con sớm có tâm hồn nghệ sĩ. Anh nhờ tôi nói với Cô giáo của Đông
Xuân dạy cháu những bài hát về bộ đội. Tôi báo cho anh biết cô giáo chưa thể dạy đàn ca khúc theo như ý anh vì con đang luyện "mê
tốt". Anh nổi nóng vì các từ "mê tốt" và "ê-tuýt", viết thư phản đối cô giáo. Cô giáo giận, tôi phải năn nỉ. Còn anh thì ngược lại, anh rất
mừng khi biết Đồng Xuân đàn bài dân ca Lit-va rất đạt, vì nhớ ba. Tôi muốn kể cho anh thật tỉ mỉ những biến động trong tâm hồn con
gái, nhất là trong lần đàn cho người bạn nhạc sĩ nghe bài dân ca buồn, nhưng lại ngại làm cho anh bận tâm trong khi đang ở chiến
trường, thành ra chưa viết được
- Mẹ ơi mẹ, bộ biên giới ở xa lắm sao mẹ, mồ hôi ướt lưng mẹ hết rồi đây nè
- Biên giới phía xa kia kìa, con, chỗ mặt trời đang lặng
Tôi nói xong hơi thở dồn hào hển. Đông Xuân xoa lưng cho tôi. Những ngón tay thon dài quá sớm do tập đàn chăm chỉ, vuốt nhẹ theo
sống lưng tôi. Mười ngón tay rối rít gõ những hợp âm, những nốt yêu thương thôi thúc tôi đạp xe nhanh hơn
Trời chiều, nắng nhạt, gió nhẹ hây hây, bình yên, dễ chịu hơn. Tôi rẽ vào con đường màu tím rực của đất đỏ nhuộm nắng chiều tà.
Ngoài xa lộ, tiếng xe cộ xa dần, không gian yên tĩnh và trong lành, có thể ngửi được mùi lá dừa từ những đám ruộng giống mới đang
trỗ.
Phía trước tôi, trên ngọn đồi đất sừng sững một ngôi tháp màu trắng, đỉnh tháp rực rỡ một ngôi sao vàng. Ngọn tháp nhắc tôi nhớ mình
đang đến đâu, làm tôi khựng lại, muốn quay về. Nhưng tôi biết rằng sau lưng tôi là lời hứa của tôi, là niềm tin của con. Tôi phải gò lưng
đạp xe lên dốc
- Đông Xuân à.
- Dạ
- Ba dạy con phải dũng cảm...
- Con đâu còn sợ ông kẹ nữa đâu, con dám ngủ riêng, con dám đi "toa-lét" một mình
Đông Xuân nói một hơi dài
- Nhưng con phải dũng cảm hơn nữa
- Dũng cảm hơn nữa là sao hở mẹ?
Câu hỏi đột ngột của Đông Xuân làm cổ tôi nghẹn lại. Tôi quên rằng tôi đã đòi hỏi quá mức, bắt con phải dũng cảm, trong khi chính
tôi cũng chưa làm được điều đó. Nước mắt tôi trào ra, nhểu vào bàn tay con đang ôm siết bụng tôi.
- Mệt quá, mẹ khóc hở mẹ. Bộ đội phải dũng cảm. Mẹ là vợ của bộ đội mà
- Mẹ đâu có khóc. Mồ hôi rơi trên tay con chớ đâu phải là nước mắt
Nước mắt tôi lại tuôn ra, lại rơi xuống tay con
- ý mẹ khóc thiệt rồi, nước mắt nóng hổi tay con nè
- Không sao, mẹ sẽ nín ngay bây giờ. Con nhớ ba, con có khóc không?
- Không. Con đâu có khóc hồi nào đâu. Nhớ ba con đàn hay hơn rồi mà.
Đã đến nơi, tôi và Đông Xuân xuống xe. Nơi đây vắng lặng, không một bóng người. Tôi đã từng đến đây vào bất cứ giờ nào tôi có thể
đến, nhưng chỉ đến một mình. Hôm nay là lần đầu tiên có mặt Đông Xuân. Tôi dắt con qua dãy mộ chí thẳng tắp như những hàng
quân. Phía bên kia những dãy mộ có một ngôi nhà, đó là ngôi nhà khu ngoại vi nghĩa trang. Nhận ra ngôi nhà trước mặt, Đông Xuân
mừng rỡ nhảy chân sáo, hay tay mở rộng, chiếc áo đầm xòe ra. Bỏ mặt tôi phía sau, Đông Xuân chạy bay tới trước. Con tôi reo lên:
- Mẹ ơi mẹ, doanh trại của ba kia rồi
Nhưng hàng rào cuối dãy mộ chí đã ngăn bước chân của Đông Xuân. Con đứng sửng lại, quay nhìn tôi ngơ ngác như một chú nai lạc
đường, còn tôi, tôi đã dừng lại tự lúc nào tôi cũng không biết. Trước mặt tôi là tấm mộ chí của anh mà tôi quen thuộc từng dòng chữ,
từng vết nứt. Tôi kịp nhớ ra rằng, tôi chưa bao giờ khóc tại đây với anh lần nào, tôi chỉ thấp hương và trồng một cây bông trang đỏ, tôi
ngồi với anh hàng giờ để nghĩ về con mà không hề dám đưa con đến. Tất cả mọi người thân đều khuyên tôi như vậy. Tôi đã nghe lời
khuyên và sa lầy mãi trong đau khổ một mình, không có con chia sẻ. Giờ đây, tôi mới cảm thấy nỗi ân hận vò xé. Tôi trách mình thiếu
can đảm, không tin vào trẻ thơ. Giá như tôi cứ nói hết với Đông Xuân về cái chết của ba nó từ ngày đầu, đến hôm nay, vết thương trong
tôi và trong con chắc đã qua giai đoạn đau nhức. Nhưng tôi không dám. Chẳng qua là vì nỗi đau đến đột ngột quá ngay khi tôi chờ đợi
ngày gặp lại anh. Một bức điện khẩu gọi tôi đến bộ tư lệny mặt trận biên giới. Tôi gửi Đông Xuân cho baạn, đi theo xe bộ đội ra tuyền
tuyến và gặp anh còn nằm trên cáng ở một trạm quân y tiền phương. Anh bị nổ mìn trên đường về, hai chân bị mất đứt, lõm sâu dưới
lần chăn đắp. Nhìn anh, tôi rụng rời. Tôi chỉ còn biết hy vọng vào đôi mắt anh chưa nhắm lại. Tôi sà đến, dán mắt tôi vào đó, chút sinh
lực còn lại rực lên long lanh. Nhưng đồng tử đã bất động, anh chỉ chăm chú nhìn vào một nơi vĩnh cửu nào đó trong bóng đêm. Những
lời cuối cùng tôi chờ đợi, anh không hề nói, những lời nhỏ nhoi về tôi, về con, về những tiếng đàn non nớt của con. Anh thanh thản ra
đi như không có ai để lại, kể cả con và tôi.
Tôi ôm ghì thân xác còn quá nửa của anh, cố gắng tuyệt vọng giành lại phân nửa đời tôi. Nhưng anh đã là người thiên cổ rồi. Người ta
mang anh đi. Một chiếc xe nào đó chuyển bánh. Bao lời khuyên đồng đội anh vang bên tai tôi. Nhưng tôi có nghe thấy gì đâu, tôi chỉ
còn nhớ mang máng rằng anh đã định cư ở đâu đó, anh đã nhận cho mình địa chỉ cuối cùng, địa chỉ của hương khói và thời gian. Sau
đó, tôi trở về với con bằng bộ mặt người mẹ trước lúc ra đi. Con thơ ngây không linh cảm được tin dữ. Con nghe tôi, tin là ba đang tiến
công về phía Tây, phía mặt trời lặn. Những chiến công từ phía mặt trời lặn được nói công khai trên đài phát thanh và trên màn ảnh
truyền hình củng cố thêm niềm tin của con, rằng ba con đang tiến về nơi nào đó, ở hướng Tây. Đông Xuân đàn bản dân ca Lit-va trong
khi đang hướng về mặt trận. Đúng như thế, bọn Pôn Pốt đang bị tiến công, bị truy lùng đến tận hang ổ. Chỉ trừ một sự kiện mà con
chưa biết là trong số người ngã xuống cho cuộc tiến công đó có một người thân yêu nhất, là anh. Mọi người trong hòa bình, góp phần
gián tiếp của mình vào chiến trường biên giới, trong đó có những người thân của tôi, đều xúc động trước sự thật tàn nhẫn này. Chính họ
đã khuyên tôi hãy im lặng với con. Tôi nghe theo họ, tôi im lặng tuyệt đối, chống lại sự nổi dậy của trái tim thương nhớ. Cho đến hôm
nay...
Tôi cố gắng không để cơn xúc động làm run đôi vai, làm bật ra tiếng nấc. Nhưng không được, nước mắt tôi đã thú nhận với con tất cả.
Từ phia hàng rào cuối cùng của nghĩa trang, Đông Xuân chạy đến, con đã thấy đang quỳ khóc trước mộ chí. Nó tròn mắt hột nhãn
nhìn tôi, ánh mắt ngây dại nghi ngờ. Giọng nói cộc lốc:
- Mẹ ngồi đây làm gì, dắt con qua doanh trại của ba đi. Tối rồi - Đông Xuân chỉ tay về hướng những ngôi nhà ở ngoại vi nghĩa trang.
Tôi ôm con vào lòng, nói trong tiếng nấc
- Ba con ở đây. Con đọc tấm mộ bia này đi
Đông Xuân đẩy tôi ra, con kề mắt sát vào tấm bia và lẩm bẩm đọc. Con đọc thật lâu. Ban đầu thì đọc lướt qua, sau đó lại lẩm nhẩm
đánh vần. Trờ-ân-trân-huyền-trần. Vờ-ăn-văn. A-nờ-an.
Đông Xuân đọc xong, đứng bật dậy như chiếc lò xo, khoa tay, lắc đầu nguầy nguậy. Không nhìn vào tôi. Con gào tôi lên:
- Không phải ba con. Người này là Trần Văn An, ba con là Dũng Chiến
Đông Xuân làm tôi bàng hoàng. Đến giờ này tôi mới nhớ ra, cháu chưa biết tên thật của ba. Nhưng chẳng lẽ lại nói với con điều này
ngay bây giờ. Trong lúc này tôi chỉ muốn Đông Xuân tin tôi, rằng con không còn ba nữa.
- Con nghe mẹ đi con. Ba con đang nằm đây. Nấm mồ này...
- Không phải đâu, con nói ba con ở biên giới mà. Ba viết thư về cho mẹ rồi
- Nhưng ba con bị...thương, và...
- Mẹ nói dối. Ba con bị thương, lành rồi, bác sĩ mổ lấy đạn ra rồi. Ba con lành rồi mới đi mà
Đông Xuân vẫn xua tay, dậm chân, vuột ra ngoài tầm tay tôi. Mặt con xanh tái, mắt tròn xoe, lắc đầu dứt khoát phản đối tôi. Tôi hoảng
hốt nhào tới, ôm siết con vào lòng
- Đông Xuân ơi, hãy tin mẹ. Ba con bị mìn của bọn Pôn Pốt. Mẹ khổ biết chừng nào. Từ lâu mẹ giấy con
Nghe tôi nói đến đây, đột nhiên Đông Xuân ôm ghì lấy cổ tôi, nó khóc òa lên. Nước mắt nó chảy lên mặt, lên cổ tôi nóng xót tận trong
lòng tôi. Tôi muốn nói lời nào đó để an ủi con, thậm chí, tôi vẫn còn nuôi ý định dối con lần thứ hai. Nhưng bỗng nhiên Đông Xuân
vùng dậy, gào lên tuyệt vọng:
- Mẹ ơi, mẹ ngốc lắm. Ba đâu có chết hồi nào đâu. Ba có viết thư cho con đâu
- Trời ơi, con....
- Mẹ hư lắm. Ba con không có ở đây. Hãy đưa con về nhà đi mẹ ơi. Đây đâu phải là nhà của ba con. Mẹ dừng nói dối, con không tin.
Lần đầu tiên, Đông Xuân nói thẳng ra là con không tin mẹ. Nét mặt con gái tôi đanh sắc khác thường. Con không cần nghe lời khuyên
của tôi, trái lại chỉ muốn tôi phải nghe. Và tôi đã nghe lời con tự lúc nào tôi cũng không hay biết. Mắt tôi ráo lệ như chưa từng khóc.
Như không hề có mất mát. Tôi đứng lên, nắm lấy tay con. Mẹ con tôi dắt nhau ra khỏi làng mộ chí im lặng
Tôi đạp xe một cách khó nhọc trên xa lộ về đêm. Đông Xuân ôm chặt lấy hông tôi. Tôi chưa biết phải nói gì với con trên đường về, dù
chỉ một lời. Hy vọng rồi thời gian cũng không thể xóa được nỗi nhớ ba của con. Mười ngón tay Đông Xuân thẩn thờ tư lự gõ những
hợp âm lên áo tôi. Những hợp âm mơ hồ, yếu ớt thẩm vào tận đáy lòng tôi giai điệu của con, giai điệu nhớ ngàn năm.
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Hành lý đi Chicago

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Grek Gyllpay toát mồ hôi vì căng thẳng thần kinh. Hắn như thấy rõ chiếc vali đang thu hút sự chú ý. Cách đây năm phút, sếp đã giao nó cho hắn với ánh mắt nhiều ngụ ý. Trong khi ra sân bay bằng taxi, hắn tự hỏi ko biết tay tài xế có chú ý tới món hành lý của ông khách nhăn nhó này ko: ít nhất trong đso cũng chứa tới 1kg heroin nguyên chất. Lần đầu tiên, hắn được giao một việc quan trọng như vậy. Hắn lo sợ mọi chuyện sẽ đổ bể trước khi kịp đến sân bay. Tuy nhiên, tay tài xế chẳng có vẻ gì để ý đến chiếc vali, chỉ vô tư huýt sáo liên tục. Thậm chí khi đến nơi, dù Grek đã cho thêm tiền boa, anh ta cũng chẳng thèm kéo hộ vali ra khỏi xe.
Grek do dự tiến đến quầy vé, hỏi thăm tin tức về chuyến bay đi Chicago. Khi giao chieecs vali để chuyển vào khoang hành lý, mồ hôi lạnh toát ra dọc sống lưng hắn. Giao heroin cho người ngoài là rất nguy hiểm, nhưng nếu giữ bên mình còn nguy hiểm hơn. Nếu cứ cầm khư khư chiếc vali, sẽ gây sự tò mò cho nhân viên và hành khách trên máy bay. Vì vậy, cuối cùng Grek quyết định gửi vào khoang hành lý. Khi đã yêu vị trong phòng chờ, hắn lấy thuốc lá ra hút, tay run run bật lửa.
Từ trước tới giờ, người ta chỉ giao cho hắn toàn những việc vặt. Vì vậy, sáng nay, hắn vô cùng ngạc nhiên khi đích thân sếp gọi điện cho hắn. Ông ta trịnh trọng mời thuốc lá, rồi thông báo là đã quyết dịnh giao cho hắn một nhiệm vụ đặc biệt. Tuy nhiên, công việc ko có gì là phức tạp: hắn chỉ chuyển một chiếc vali đựng heroin đến Chicago rồi quay về báo cáo lại. Khi biết được số tiền thưởng cho phi vụ này, hắn thấy chóng cả mặt. Nếu mọi việc suôn sẻ, từ nay hắn sẽ làm công việc nàydài dài, sẽ nhận được rất nhiều tiên, rồi hắn sẽ mua được xe hơi đời mới. Kẻ một thời ăn cắp xe hơi và móc túi đưa mình vào những giấc mơ ngọt ngào...
Bất chợt, những suy nghĩ của hắn bị chặn đứng lạ bởi tiếng sập cửa ầm ĩ. Một tốp đàn ông, lẫn trong đó có mấy người mặc sắc phục của cảnh sát, bước vào. Thần kinh Grek như muốn đứt. Cũng may vì quá sợ hãi nên hai chân hắn cứ dính chặt xuống sàn nhà, chỉ làm rơi điếu thuốc. Phải công nhận là thằng bạn có lý khi nhận xét hắn là một kẻ nhát gan. Nhưng tốp ngừơi kia đã đi về phía khu dành cho Vip. Có hai ngừơi khoác áo da sẫm màu, may rất cầu kỳ.
- Có chuyện gì vậy? Grek hỏi một cô tiếp viên, sau khi đã "phục hồi" được khả năng phát âm.
- Có vị quan chức cao cấp của quốc gia Mỹ latinh nào đó. Hôm qua các báo đều đưa tin về ông ta. Tối qua, tổng thống tiếp ông ấy ở Nhà trắng, bây giờ ông ấy đi Chicago. Có thể người ta sẽ cho ông đi chuyên cơ...
Grek thở phào nhẹ nhõm. Khi quay về, hắn phải nhớ kể lại chuyện rắc rối này có sếp nghe, có thể số tiền thưởng sẽ tăng lên chút đỉnh.
Sắp tới giờ khởi hành. Người đầu tiên bước lên cầu thang là vị quan chức cap cấp nọ. Đế cửa máy bay , ông ta còn quay lại vẫy vẫy đám phóng viên bên dưới. Máy quay phim kêu sè sè. Rồi đám phóngviên cũng tản đi. Mãi lúc này, cảnh sátmới cho số hành khách còn lại lên máy bay. Từ chỗ của mình, Grek ko trông tháy vị quan chức, những chắc ông ta sẽ ngồi đâu phía trước. Hắn liếc nhìn đồng hồ. Đã quá giờ cất cánh 9 phút. Đáng lẽ giờ này máy bay đã phải ở trên cao. Grek lại cảm thấy lo sợ. Nếu ko vì người đàn ông quan trọng kia, một phần công việc đã ổn thoả. Hắn lo âu nhìn ra ngoài cửa sổ. Một nhóm cảnh sát đang chạy lại phía máy bay. Grek cảm thấy bấn loạn: chắc họ đi tìm hắn. Chỉ một loáng nữa thôi, họ sẽ vào trong máy bay, sẽ lôi chiếc vali đựng heroin của hắn ra. Hắn như cảm thấy hơi lạnh của chiếc còng số 8.
Đúng là tốp cảnh sát đã vào khoang, đi dọc theo hành lang đến cabin. Sau đó ít phút, một trong các cô tiếp viên bước ra. Với nụ cười chuyên nghiệp, tuy có hơi bị méo một chút, cô thông báo:
- Thưa các quý bà, quý ông, chúng tôi rất lấy làm tiếc phải thông báo rằng chuyến bay này bị tạm hoãn.
- Đáng ra phải bay lâu rồi - Người đàn ông ngồi cạnh Grak làu bàu- ít ra họ cũng phải nói vì sao chứ!
- Xin các vị hãy bình tĩnh, chúng tôi vừa nhận được một lá thư nặc danh báo tin trong máy bay có bom hẹn giờ - Một cảnh sát đến bên cô tiếp viên giải thích - Cũng có thể đây chỉ là chuyện đùa, nhưng để đề phòng, chúng tôi buộc phải kiểm tra lại toàn bộ hành lý.
"Bình tĩnh, phải cố bình tĩnh. Họ tìm bom chứ ko phải heroin"- Grek nhủ thầmvà vội bước ra khỏi máy bay. Hắn nhìn thấy tốp công nhân trong bộ áo liền quần màu da cam đang chuyển hành lý trở lại khu phòng chờ để kiểm tra. Grek nhẩm tính trong chớp nhoáng: nếu hắn chuồn đi, coi như cả heroin, cả tiền thưởng, cả chính bản thân hắn sẽ chấm hết. Hắn có thể hình dung ra nếu báo cáo lại với sếp là do yếu thần kinh, hắn đã để lộ chiếc vali chứa heroin thì chuyện gì sẽ xảy ra. Thậm chí, sếp còn nghi rằng chính hắn đã giao nó cho cảnh sát. Còn nếu ở lại đây, hắn sẽ bị bắt. Người ta sẽ truy ra chủ của chiếc vali. Chỉ còn lại một lối thoát duy nhất: bằng mọi giá, phải lấy được chiếc vali rồi chuồn ngay. Nếu thành công ít ra hắn cũng tạo được ấn tượng tốt đẹp cho sếp. Ông ta sẽ đánh giá cao sự tháo vát và phản ứng mau lẹ của hắn.
Ra vẻ lo lắng vì quả bom sắp nổ, Grek hỏi quầy thông tin là hành lý được tái kiểm tra ở đâu.
- Ông đừng sợ - Cô trực quầy động viên - Hành lý được chuyển vào gian dành cho phi công ở tận cuối hành lang kia. Chắc chỉ là báo động giả. Chúng tôi quen với chuyện này lắm rồi...
Grek đi đến trước cánh cửa có treo tấm biển :"Cấm người lạ mặt" xoay nắm đấm cửa rồi bước vào, cẩn thận quan sát chung quanh. Chẳng ai để ý đến hắn. Ko thấy có bóng dáng của cảnh sát, chỉ có hai nhân viên sân bay. Một người ngay sau đó đi ra ngoài. Chiếc vali của hắn nằm lấp ló giữa một cái xắc da và một vali làm bằng da cá sấu lớn. Grek bước đến bên người nhân viên còn lại, lấy giọng tự tin hỏi:
- Tại sao đại uý Shpallman ko có ở đây?
Nhân viên này chỉ nhún vai.
- Đi tìm ông ta ngay lập tức! Phải có người của chúng tôi luôn túc trực ở đây!Đại uý Shpallman trông cao to, tóc nâu nhạt ấy!
Người đàn ông miễn cưỡng đi ra. Cho tới lúc anh ta hiểu ra rằng chẳng hề có đại uý Shpallman nào cả, ít nhất cũng mất 5 phút, Grek giật vội chiếc vali rồi thoát ra ngoài. Hắn gặp ngay một taxi đang đậu trước cửa lớn, lao lên xe và hít một hơi thật sâu.
10 phút sau, hắn xuống xe trước cổng biệt thự, bấm chuông ba lần. Một tên cao to hiện ra:
- Có chuyện gì vậy, Grek- Tên này hỏi giọng thô lỗ- Về rồi à?
- Sếp đâu? Tao cần giao cho ông ta cái này - Grek chỉ vào vali.
- Để tao đưa cho ông ấy cũng được! - Tên này gầm gừ rồi giật phắt chiếc vali từ tay Grek - Còn mày, biến đi!Sếp dang chờ một cuộc gặp quan trọng đấy.
Grek do dự định phản đối, song cánh cửa đã đóng sập trước mũi hắn.
Xung quanh chiếc bàn gỗ quý đặt giữa phògn khách sang trọng trong ngôi biệt thự, 5 người đàn ông đang ngồi bàn luận về vị quan chức Mỹ Latin, người mà chỉ ít phút nữa sẽ gián tiếp mang lạ cho bọn họ một khoản tiền lớn. Lúc này, người đàn ông vừa nói chuyện với Grek bước vào. Nhưng vì ko ai để ý đến hắn, hắn đặt chiếc vali ở góc nhà rồi lặng lẽ đi ra.
- Tên mang bom lên máy bay là người như thế nào? Gã đàn ông lớn tuổi nhất trong bọn hỏi.
- Hắn tên Grek Gyllpay gì đó. Hắn ta tưởgn đang chuyển heroin và sẽ được thưởng to. Nếu tôi ko nhầm, đây chính là lúc quả bom phát nổ - Tên ngồi cạnh gã lớn tuổi vừa trả lời, vừa đưa mắt nhìn đồng hồ.
Đúng khoảnh khắc này, một tiếng nổ inh tai vang lên, làm rung chuyển cả mặt đất. Khi đám khói và bụi đất đã lắng xuống, cả toà biệt thự chỉ còn là một đống đổ nát./.
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Một cánh hoa chìm

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Năm 1915 tỉnh Bắc Ninh bị lụt to, nhiều nơi dân sự khổ sở đói khát, cái nạn thuỷ cũng chẳng kém gì cái tai vạ quân
giặc, đi đến đâu thì tàn phá để cái di tích tấn bi kịch đến đấy.
Một làng kia, xa tỉnh ba bốn kilômét có một nhà độc trọi hai chị em. Khi bấy giờ nước các sông đều to. Đê vỡ tứ tung,
mới ban chiều nước sông xấp mặt ruộng, đến tối đường cái đã phải lội; làng này thấp nên nhà nào nhà ấy nước mấp
mé bực cửa.
Nhiều người đã chạy đồ, đi ẩn mình còn hai chị em nhà này còn dùng dằng ở lại vì nước đã đứng, vả ngần ngại phận
gái đêm khuya biết trốn tránh vào đâu. Nàng bèn dự phòng bắc sàn mà ở.
Ai ngờ đến canh ba nước lại lên mạnh lắm, trống hộ thuỷ đánh dồn từng hồi, xa nghe văng vẳng mà sởn tóc.
Chốc chốc nàng mở cửa xem nước trông trời, mỗi lần đóng cửa lại thở dài, lo nghĩ bối rối trong lòng.
Dưới thì nước lênh láng lưng nhà, chèo leo lên mấy tấm ván mỏng với một ngọn đèn lù mù; xót thay cho phận má
đào, gặp khi nguy hiểm biết nào cho yên!
ở ngoài sáng trăng tờ mờ; gió thổi ào ào như bão; cửa ngõ lay chuyển ầm ầm. Nàng lại càng mê mẩn tâm thần, ngơ
ngác kinh hãi, lo quanh nghĩ quẩn... Bỗng có tiếng gọi to át tiếng gió:

* Chưa rõ tiểu sử

- Cô B... ơi! Còn ở nhà làm gì đấy? Chết chửa! Nước đến chân rồi bao giờ mới chạy, mau lên! Nguy đến nơi rồi! Lên
thuyền đây!
Nàng hoảng hốt sấp ngửa ẵm được đứa em ra.
- Trăm sự nhờ người cứu được chị em tôi, ơn này bao giờ dám quên.
Gió to, thuyền nan thì mỏng mảnh, đã chở ba người, đặt thêm đứa bé thì nước gần đến cạp thuyền. Ba người băn
khoăn, lưỡng lự không biết tính làm sao, ngơ ngác nhìn nhau. Nàng hiểu ngay ý, biết cơ hội nguy cấp, cái thần chết
đã hiển hiện lên trước mặt nàng.
Nhưng lòng son dạ sắt như nàng nào có run sợ, ngã chút lòng mà quên cái nghĩa vụ.
- Các ông cứ chở đi thôi! Thuyền đã nặng rồi, tôi xin ở lại một mình, tôi ví có thiệt thòi còn hơn luỵ đến bốn mạng
người, quý hồ em tôi nó sống là may, còn tôi...
Hiểm nghèo đến nơi, bất đắc dĩ ba người phải gạt nước mắt quay mũi.
Trong khoảng vắng đêm thâu, gió thổi lồng lộng, sáng trăng mập mờ, mông mênh một nước một trời, cái thuyền cỏn
con dập dềnh, lênh đênh như cánh bèo biết trôi dạt vào đâu là bờ là bến.
Vì sóng gió cho nên lúc thuyền đến được gò kia mà lại lộn trở lại thì trời đã tang tảng sáng. Khi đến chỗ nguy cấp cứu
nàng thì chỉ thấy chơ vơ mấy ngọn tre, nhà nàng đã đổ trôi băng đi đâu mất rồi...
Ôi! Ngờ đâu đáy nước đục bẩn kia là ngôi mộ của một tấm lòng vàng ngọc! Ngán thay! Một đoá trà mi đã chìm đắm
từ bao giờ?
Sáng hôm sau ông lái đò ngất nghểu ngồi xổm, vừa ghế nồi cơm, kể gốc tích nàng cho chúng tôi nghe rằng: "Chuyện
nàng sầu thảm có một: Nàng khổ sở vất vả từ thuở nhỏ. Mẹ nàng mất sớm, người ta ngờ là người dì ghẻ đánh thuốc
độc. Khi bấy giờ nàng hãy còn bé chưa biết gì. Cha nàng thì hiền lành nhút nhát. Người dì ghẻ tính cay nghiệt tàn ác,
lộng quyền hạch lạc cả chồng, hành hạ hết cấp. Thôi thì gánh nước thổi cơm, xay lúa giã gạo; ẵm em coi nhà, hầu dì
ghẻ, chiều dỗ em bé, hơi sơ ý thì phải đập phải đánh, trận đòn nào là chết đi sống lại. Thế mà nàng chịu nhẫn nhục ăn
ở được lòng cha, vừa ý dì ghẻ. Đến năm mười sáu nàng lại phải cái cầu phụng dưỡng cha ốm. Được ít lâu bệnh ho lao
làm người chật vật mãi mới chết, nàng phải xuất thân gánh thuê, vác mướn nuôi cả nhà. Người dì ghẻ chưa hết trở
chồng đã bán cả gia tài đi theo trai, còn trơ một cái nhà tranh và một đứa con bé bỏ lại cho nàng.
"Nàng nghĩ tình cha hiền thương con trẻ chơ vơ cho nên nàng chầm bập, nâng niu đứa con dì ghẻ cũng như em ruột.
"Lần hồi thức khuya dậy sớm, nàng cũng khéo tần tảo nuôi được hai miệng ăn... Chuyện như thế: tội nghiệp cho
nàng! Người nết na thảo hiền như vậy mà phải thác oan dường này!".
Người lái đò nói xong thì bắc nồi cơm ra, ai nấy lẳng lặng ăn. Còn tôi tính vốn dễ cảm xúc, cầm bát cơm lên lại dằn
xuống, cổ hình như nghẹn, bụng đói mà tưởng no đầy. Ngao ngán lòng trông thấy hơi cơm nghi ngút lại tưởng tượng
cái hồn nàng phảng phất là là ở đâu trên mặt nước như đám sương mù buổi sáng.
Tạp chí Nam Phong,
số 25, tháng 7 - 1919
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Ai giết người

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Về cái thời đại gần đây, trong xóm Cầu Đá ở làng Hội Xá có một người đàn bà góa chồng, tuổi ngoài bốn mươi.
Từ khi đức phu quân bà vui thú non bồng, còn bà ở lại chốn hồng trần thời chăn tằm, hái dâu, hàng xay hàng xáo, giữ
tiết thờ chồng và nuôi hai đứa con trai bồ côi cha đi học.
Bà vốn người họ Nguyễn, năm 20 tuổi thời tơ xe chỉ kết về họ Lê, lấy kế một ông đồ tuổi ngoài ba chục, đã có một
đứa con riêng vợ trước để lại lên bốn. Không ngờ trăng già độc địa, giữa đường vội cắt gánh loan hoàng, gối uyên
ương nỡ đem chia nửa, gây nên một cái bi kịch kẻ dương gian, người âm phủ, đôi đường cách trở rất bi ai! Năm bà
chẵn ba mươi, thời ông từ biệt bà mà chơi nơi Lạc quốc.
*
* *
Có một hôm, mặt trời đà xuống núi, vừng trăng mới lên non, chuông triêu mộ trong làng đổ dồn khắp chốn, người làm
trong các khu ruộng chiêm đã đuổi trâu về nghỉ tối, kẻ đi người lại vắng tanh, trên con đường vào chùa Hương Tích,
cách mé trong cái quán Đìa độ chừng hai mươi thước tây có một cô con gái trạc ngoại đôi mươi, nón quai thao, giày
mõm nhái, quần lĩnh áo băng, khăn xa tanh, yếm nhiễu đỏ, vòng hoa, nhẫn hột coi rất phong lưu, bị mấy nhát dao ở
cuống họng và cạnh sườn, nằm sóng sượt ra ở dưới rặng tre bên bờ mạ, hành trang đồ vật y nguyên, không mất tí gì
cả. Lạ thay! Không biết tiền oan nghiệp chướng ra làm sao, ai thù ai ghét mà mảnh hồng nhan phơi nơi đất khách,
thảm đát1 nhường vầy! ở đâu đến đó cơn cớ những gì? Biết ai mà hỏi!
Tuần phiên làng Yến Vĩ đi canh đồng đêm vừa đến đó, thấy dưới bụi tre thấp thóang bóng người mặc áo trắng, đương
ngồi bên bờ mạ bèn đi xuống thời bắt gặp hai chàng thiếu niên hai bên mà cái thây người con gái thời ở giữa, đứa lớn
tay cầm dao, đứa nhỏ áo dây máu liền hô hóan nhau lại bắt trói giật cánh khỉ cả đôi đem giải về điếm.
*
* *
Trong lúc tuần phiên làng Yến Vĩ bắt được hai kẻ giết người thời trên con đường khuất khúc ở bờ sông Đào, sông Hát
dưới bóng trăng lờ mờ ở men làng Thượng, làng Sêu có một người con trai thành thị chân bước vội vàng, lòng lo ngay
ngáy, đi một quãng lại ngoảnh cổ lại sau nhìn, nhường e, nhường sợ tai vạ đến mình. Nhưng xem vẻ ra có ý vui lòng
hả dạ, miệng lẩm bẩm rằng: "Xin đức Thượng đế ngài chiếu giám cho tấm lòng thành kính của tôi đối với bạn tôi,
những kẻ hại nhân thời nhân hại, ngài soi xét cho chúng tôi được phận nhờ".

1. Nguyên in: thảm đáp. Thảm đát: buồn rầu, đau xót.

Cách sau người ấy, độ năm kilômet thời không biết rằng người ấy có biết đến hai kẻ giết người cổ đeo gông tre, tay bị
thừng buộc theo những người tuần phiên và kỳ dịch làng Yến Vĩ giải nộp quan phủ Mỹ Đức đó không? Ai ngờ cùng
chung một con đường, cùng chung người đi đường mà có cái bi kịch diễn ra cũng trong một khoảnh khắc, một bên lủi
thủi một người, không ai gông trói mà lòng cũng ngổn ngang. Vậy các độc giả cao minh cho cái bi kịch nào thảm
hơn?
*
* *
Một hồi ba tiếng trống buổi hầu sáng, quan ra công đường, nha lại dân sự đều chực hầu rất đông, ở hàng cơm cổng
phủ, các bác tuần phiên đã cột hai tên ác phạm vào cột nhà hàng mà ngồi hầu cơm cụ chánh tổng tổng mình và thầy lý
thầy phó làng mình, người nào người nấy đều cơm no rượu say cả rồi, nghe tiếng trống bấy giờ mới điệu tội nhân vào
nộp trước quan phụ mẫu.
Quan phụ nhận giấy giải nộp xong, nhất diện ngài sai thầy đề cùng mấy tên lính lệ, tùy phái đi ngay với chánh tổng
Phù Lưu thượng và lý trưởng Yến Vĩ về chỗ người bị giết nằm khám nghiệm lại để đem chôn; nhất diện ngài sai thầy
thông lấy cung hai tên ác phạm rồi ngài truyền cai lệ đem xuống trại giam. Trong khẩu cung thời một người khai tên
là Lê Văn Hữu 25 tuổi, cha mẹ chết cả rồi, một người khai tên là Lê Văn Cung, 18 tuổi, cha chết mẹ còn, chỉ khác tên
khác mẹ, còn họ và tên cha cùng các lời cung về việc giết người con gái thời giống nhau hết. Hai cậu cùng khai tên
cha là Lê Văn Từ ở làng Hội Xá, duy cậu bé thời còn mẹ là Nguyễn Thị Nhân mà đều nói rằng: "Vốn con nhà học trò
xưa nay lương thiện không có làm xằng bao giờ". Sự giết người thời cùng chối rằng: "Tình cờ gặp thời xem, chớ
không phải anh em mình giết".
*
* *
Nguyễn Thị Nhân là tên ai? Các độc giả hẳn cũng biết ngay là tên bà ngoài bốn mươi tuổi, góa chồng từ năm ba
mươi, ở xóm Cầu Đá mà Lê Văn Từ chính thực là tên ông đồ chồng bà. Lê Văn Cung con bà, còn Lê Văn Hữu là con
người vợ trước vậy.
Đêm hôm ấy, mà Hữu và Cung phải bắt thời bà ở nhà vẫn tưởng như mọi khi hai con mình đi chơi cùng các bạn học
quanh vùng hoặc ở Phú Yên, hoặc sang Bài Lam hay là ở Bạch Tuyết, không ngờ sáng ra bà vừa cất gánh gạo ra chợ
Đục Khê bán, đến cổng chợ đã thấy người ta xôn xao chuyện con bà giết người phải bắt nộp quan. Ôi! Tin đâu sét
đánh lưng trời, khiến cho lòng người mẹ góa kia không nung mà nóng, chẳng cắt mà đau. Sụt sùi giọt lệ trở lại gia
đình, nào hai con đâu? Mà chỉ thấy một miếng đất vườn, ba gian nhà gỗ. Lẽ đâu tin ấy lại là thật? Hay hai con ta ở
trong nhà? Nào có đâu! Chỉ thấy bàn thờ: đây là thổ công, đây là tiên tổ, đây là đức phu quân! Nghĩ mà thương thay
cho con trẻ, tưởng lại giận thay với trời già! Kìa mặt trời đã gần đứng bóng, trẻ đầu làng đã đi xem về, đã thấy đồn đến
tai rằng quan phái cụ tá về khám thây người con gái trẻ, thôi thế nào mà chẳng lụy đến thân già này thôi. Khóc chán
lại nghĩ, nghĩ chán lại khóc, không còn biết tính ra sao, bà chỉ còn có lên đèn hương mà cầu nguyện trước từ đường
mà thôi.
*
* *
ở dưới hương thôn, người vợ góa chồng thương con vật vã, lúc ấy đương là lúc thầy thông vặn vẹo lấy khẩu cung hai
người con ở chốn công đường quan phủ Mỹ Đức. Lấy xong khẩu cung, thời phó lý và tuần phiên làng Yến Vĩ ký dự
thính khẩu cung, chu tất mới ra chào quan xin về. Các bác tuần phiên với thầy phó ra ngoài cửa phủ thời anh em ai đã
xuống đến trại xỏ chân vào cùm rồi vậy.
Quan xem cung xong, liền phê hỏa bài cho thầy đề, lập tức khi đệ biên bản về phủ thời phải đòi kỳ lý làng Hội Xá lên
để chất vấn tính hạnh và căn cước hai tên chối rằng không giết người này.
Hỏa bài một xuống thời kỳ lý đi ngay theo cụ đề về phủ. Song trước khi đi những lễ trình diện cụ tá, lễ trình tờ khai
quan, hiện đã tống nhà người gái góa kia bắt phải biện cả. Nhưng dân Hội Xá lên quan, cụ này thời khai rằng: anh em
nhà ấy vốn lương thiện, còn sự giết người này có hay không không dám chắc; thày kia thời khai rằng: không dám
quyết rằng anh em nhà ấy có giết người hay không song vốn là người đáng tình nghi xưa nay...
*
* *
Đủ cả giấy má, bấy giờ quan phủ ngài mới đem hỏi mỗi người một lúc để tra xét cho ra.
Lê Văn Hữu bị hỏi trước:- Sao mà trời vừa tối hai anh em bay đã dám cả gan giết người? Quân này gớm thật!
- Dạ bẩm lạy quan lớn, đèn trời soi xét, chúng con quả thị hiền lành.
- Không giết người thời sao bay đến đấy làm gì? Mà khi chúng nó bắt được bay, tay mày cầm dao, áo em mày đặm
máu, chúng bay đương lúi húi lấy của của con bé ấy. Căn cước của chúng bay đâu, khai cũng đáng tình nghi thời bay
còn chối thế nào được?
- Dạ bẩm lạy quan lớn, sinh phúc cho chúng con được nhờ, nhân lệ thường của anh em chúng con cứ đến chiều thời
rủ nhau đi đồng, vừa mới ở dưới đồng lên, đến đấy thấy lạ mà xem thực không có giết.
- Mày nói thật vô lý! Có thế nào cứ thú thực đi, ông liệu đường cứu cho, không có thời cứ lý kết án bay chối sao khỏi
được.
- Dạ bẩm quan lớn là cha mẹ dân xin ngài xét cho, quả thực là hai anh em con vừa đi đến đấy thấy lờ mờ mà không rõ
rằng người hay là cái gì mà giống như người, mới bảo nhau rẽ vào đó thời em con mò vào trước xem người rồ hay phải
bệnh lại nằm đấy, sau em con kêu lên là người con gái Hà Nội đi chùa bị giết, sườn có con dao còn cắm đó, con vội
vàng rút con dao vừa xong, thời thích ngộ tuần phiên đến.
Quan nghe xong lại đòi Lê Văn Cung lên hỏi, rồi sai lính đem Hữu xuống trại. Quan hỏi cung thời cũng khai như lời
anh. Quan bẻ rằng:
- Sao bay thấy thế bay không hô hoán ngay dân làng đến rồi bay hãy xem có được không? Thực là bay giết.
Cung thưa rằng:
- Chúng con vừa mới gặp, cái lòng thương người chết nó làm cho quên mất lẽ quốc gia, bởi sơ ý có thế mà nay nên
tội.
Quan hỏi xong, lại sai đem xuống trại giam.
*
* *
Buổi hầu hôm sau, đông đủ cả quan nha, cơ, lệ, cùng mấy ông chánh tổng, tuần huyện sở tại đem việc ra bàn định
vẫn lấy làm ngờ.
Thầy đội lệ bẩm quan xin tấn. Quan liền sai đem vồ nọc chão, roi kìm cặp, hỏa lò than, đủ các thứ để ở sân công
đường, rồi đem phạm nhân ra tấn khảo. Quan truyền khảo Lê Văn Cung trước.
Lính đem Cung ra đóng cọc rồi trói giật cánh khỉ ra đằng sau, chìa đầu gối ra để đợi khảo. Lê Văn Hữu trông thấy thế
nghĩ thương em ứa hai hàng nước mắt, xin ngay vào trước cửa quan để thú tội cho em khỏi phải khảo.
- Bẩm lạy quan lớn, ngài ngồi cao xét rõ, nay cái lý đã hiển nhiên rằng anh em chúng con giết người, không sao chối
được. Vậy con xin thú quan lớn rằng con giết, còn em con nó ngu dại nó chẳng biết gì cả. Mẹ hai con có một mình
nó, xin quan lớn làm tội con mà tha cho nó.
Cung thấy anh nói thế bèn bẩm to lên rằng:
- Anh con sợ con phải khảo đau khổ mà ra nhận tội trước đi đó. Thôi quan trên đã định tội cho chúng con giết người
chúng con không thể chối được, vậy con xin thú thực là con giết, chớ anh con xưa nay vốn người lương thiện, trong
bọn nho lâm đều yêu quý cả.
Hữu thấy em nói thế liền nói với quan rằng:
- Bẩm lạy quan lớn, em con không biết giết người, nó lành lắm chẳng qua nó thương con mà nó nhận liều đó mà thôi,
quả thị con cầm dao, con đâm con bé ấy, em con không biết sự tình gì, xin quan lớn tha cho nó về để nó phụng dưỡng
mẹ hai con, cho mẹ con được vui lòng, còn con mới chính là có tội.
Cung lại thưa quan rằng:
- Bẩm lạy quan lớn, anh con nhận bậy, chớ chính con giết nó, vì con thấy của mà ham, giết xong đưa dao cho anh con
cầm, chứ không phải là anh con giết, chẳng qua anh con thương con bé dại mà muốn cứu con, gánh lấy tội đó thôi,
chính con mới là có tội.
- Em ơi, sao em nhận chi thế, chính anh là cái thằng tham sắc hiếp gian không được rồi giết người ta, em còn thương
làm gì thằng hung ác nữa... Bẩm quan lớn, con đây mới thật là có tội.
Hai anh em Hữu và Cung, anh nhận là anh giết, em nhận là em giết làm cho suốt từ quan đến nha, cả bên cơ lẫn bên
lệ, không ai biết là người nào giết người, kẻ thời nhận vì tham tài mà giết, kẻ thời nhận vì tham sắc mà giết, không biết
ai oan ai tội.
*
* *
Hai anh em Hữu và Cung đều nói phân vân như vậy, quan phủ Mỹ Đức không hiểu thế nào mới bẩm đệ cả hồ sơ và
giải cả hai người ấy lên quan Tổng đốc Hà Đông.
Ra đến tỉnh đông đủ quan thượng, quan án, quan thương cùng bên phiên, bên niết hỏi thời hai anh em nhà ấy đều
cũng cứ kẻ này khăng khăng vì tham tài mà giết, kẻ kia khăng khăng vì hiếu sắc mà giết, quan tỉnh cũng lấy làm khó
xử mới bẩm lên quan kinh lược. Quan kinh lược bèn sức cho đòi người mẹ lên hỏi. Mà cái tiếng hai anh em Lê Văn
Hữu yêu mến thương xót nhau đã lừng lẫy lên ở Bắc Kỳ, cơ hồ cả nước Nam đều biết, ai nghe cũng lấy làm cảm
động.
Trong lúc ấy, thời cái người thành thị cùng đi một đường với anh em nhà họ Lê cách nhau 5 kilômet kia đương thênh
thang ở trong chốn Thăng Long, dưới non Nùng trên sông Nhị.
*
* *
Thì giờ như tên bắn, ngày tháng như thoi dưa, bà Nguyễn quả mẫu ngồi nhà tính đốt ngón tay đã được hai tháng lẻ!
ồ! Mới ngày nào một vẻ thiều quang thiên hạ nô nức chơi xuân trẩy hội mà đến nay còn một tháng nữa thời đã đến tết
đoan dương. Nghĩ đến lúc tàn xuân trăng vọng, con mình phải bắt mà cái sầu nay đã đến cùng cực không biết thế nào
rồi! Xiết bao nhiêu tốn kém về dân làng khai báo mà đến nay chợt lại có lính cho đòi ra đến kinh kỳ. Mảng tưởng đến
chỗ chồng con du học xưa nay, ra đến nơi lòng càng thảm đạm.
Này, buổi hầu sáng, trống vừa thôi điểm cậu lính tuần đã giải một bà cụ mặt mũi âu sầu chua xót, từng đi qua cái con
đường người con trai thành thị đi trước 5 kilômet tuần phiên làng Yến Vĩ giải con mình đi sau, mắt đã nhìn thấy cửa
phủ Mỹ Đức, cửa dinh quan tổng đốc Hà Đông, bấy giờ mới đến tòa kinh lược mà vào hầu vậy.
Vào tới nơi sụp xuống lạy, quan liền hỏi:
- Con mụ kia, xưa nay trong gia đình sao không biết dạy con để cho con làm điều phi pháp.
- Dạ bẩm lạy cụ lớn, ngài là sao phúc của muôn nhà, Phật sống của trăm họ, xét thấu tình cho con. Cha chúng nó
ngoài bốn mươi thời chết vốn cũng là người học trò thi hai ba khoa tam trường về nhà dạy học, con hơn mười năm nay
chẳng may ở góa, giữ tiết thờ chồng, cũng mong nuôi cho con nối nghiệp thư hương, không dè tai bay vạ gió, hai con
con dại dột thế nào, sinh con ai nỡ sinh lòng, cụ lớn thương cho con được phận nào con nhờ phận ấy.
- Không, ta không có làm tội mụ làm chi, ta chỉ hỏi mụ cứ thực mà nói trong hai đứa, đứa nào ác hơn.
- Trăm lạy cụ lớn, hai thằng con con xưa nay, chúng nó chăm chỉ học hành, nết na đứng đắn cả, người trong vùng con
ai cũng khen ngợi, chẳng hay sự giết người này ra thế nào con không dám biết. Duy con có nghe trong sách mà chồng
con thường giảng đọc xưa nay rằng: "Sát nhân giả tử", vậy thời phép nước, hễ giết người thời phải làm tội chết, nay
con xin cụ lớn làm tội thằng em, còn tha cho anh nó được về thời chúng con được nhờ ơn cụ lớn lắm lắm.
Quan kinh lược thấy nói lấy làm lạ lắm bèn hỏi luôn rằng:
- Thường tình con người ta, ai cũng yêu con bé hơn con lớn, nay con bé lại chính là con mụ đẻ ra, con lớn lại là con
người vợ trước sao mụ lại không xin tội cho đứa bé mà lại vì đứa lớn thế thì nghĩa làm sao?
- Dạ bẩm lạy cụ lớn ngàn lần, thằng Lê Văn Cung là con con đẻ ra, thằng Lê Văn Hữu là con chị trước con đẻ ra thật.
Nay bố nó đã vì nó bồ côi mẹ mà lấy con về để làm dì ghẻ nó. Lúc bố nó hấp hối chết có gọi con lại gần cạnh giường,
cầm lấy cổ tay con trỏ vào thằng ấy mà dặn lại con hai ba lần rằng: "Bà mày vì tôi mà chăm nom cho nó, may ra mà
nó nên người được thời tôi và mẹ nó ở dưới suối vàng cũng được đội ơn". Con đã nhận lời mà rằng: "Xin ông đừng có
ngại, trăm sự tôi xin chu tất, chẳng may trời phân rẽ hai vợ chồng ta, nay người mất kẻ còn, cái đau lòng kể sao cho
xiết! Thôi mệnh trời đã thế, ông cứ an giấc ngủ trăm năm, hai đứa đứa nào cũng con tôi cả, tôi hết lòng gây dựng".
Nay nếu con làm mẹ kế nó thời cũng là mẹ nó, đã là mẹ mà không yêu thương lo liệu được cho con, sao cho là có
nhân? Coi con chồng là con chồng, con mình là con mình, chỉ biết âu yếm con mình mà phí hoài con chồng sao cho là
có nghĩa? Khi bố nó chết đi có ân cần dặn lại như thế, con đã nhận lời, phân lại nhường kia, nếu bây giờ không chu
toàn được cho nó thời là nói dối người chết không có giữ được lời, sao cho là có tín? Làm người cốt lấy cương thường
làm trọng, nay bỏ cả nhân, cả nghĩa, cả tín đi thời còn định làm mẹ người mà sống ở trên đời sao được?
Quan nghe thấy lời bà cụ nói rất là cảm động, bèn gọi lính đưa vào nhà trong cho yết kiến bà lớn, rồi ngài tiễn chân 5
tấm lụa, và hai nén bạc, hứa rằng sẽ nghĩ phương kế mà cứu cả cho 2 người con.
*
* *
Cái tấm lòng liệt nữ của bà Nguyễn quả mẫu hôm trước, hôm sau người Hà Nội đã truyền tụng vang lừng đâu đâu
cũng biết.
Cách hai hôm sau, buổi hầu chiều, trước công đường nha kinh lược có một người tuổi trẻ mặt mũi khôi ngô, chân tay
mập mạp, khăn lượt áo the, hình dung nho nhã, sụp lạy quan kinh lược xin chịu cái tội của hai người anh em nhà họ
Lê mà đi sau người ấy hôm nào cách năm kilômet ở con đường lên phủ Mỹ Đức kia.
Quan kinh lược lấy làm lạ. Người ấy lạy xong, đứng chắp tay ngang ngực mà bẩm rằng:
- Bẩm lạy cụ lớn, tên con là Lương Xuân Tín, năm nay 28 tuổi, học trò trường Đốc học, ngụ ở phố Hàng Thiếc Hà
Nội. Từ năm 13 tuổi có kết bạn được một người anh em rất thông minh hào hiệp tên là Dương Đức Nghĩa ở phố Hàng
Bông. Cha anh ấy đỗ cử nhân có tiếng, mất từ khi anh ấy mới lên bốn, bà cụ cử người rất trinh tiết, trung hậu; kết tóc
năm 19 tuổi với người con gái 18 tuổi ở phố Hàng Đậu tên là Lý Thị Lợi, nhà vợ cũng giàu có xưa nay. Cưới vợ về
một năm, đẻ được đứa con trai, năm sau đứa bé ấy mất mà bà thân mẫu cũng từ trần; bỗng năm kia, bỗng dưng vô cớ
mà bạn con đã phải nằm trong nấm cỏ ở đồng làng Kim Lũ gần đây! Chao ôi! Dòng nhà ấy bây giờ tuyệt tự. Nghĩ đến
bạn con lúc nào con cũng thâm gan tím ruột, giận thay cho kẻ tham dâm nỡ hại khách anh hào! Thương thay nỗi oan
không làm sao bộc bạch được! Cái đám cưới tháng Chạp năm ngoái mà linh đình ở chốn kinh đô, tuy Cụ lớn ngồi cao
nhưng nghe xa, nhắc tới chắc cụ lớn còn phảng phất rằng đã có kẻ thưa lọt tai ngài cái ngày tên khách Minh Hương ở
Hàng Ngang đón vợ. Ôi! Vợ nó đấy là ai? Chính là tên Lý Thị Lợi. Ngày ấy là ngày hai đứa giết người nó đã về ở với
nhau. Nguyên từ khi bà cụ cử qui ẩn đi rồi, anh Dương Đức Nghĩa anh trên chẳng có, em dưới thì không, trọi có hai
vợ chồng, âu yếm nhau vô hạn. Ngờ đâu chồng thực mà vợ hư, chồng ngay mà vợ gian giảo. Thị Lợi từ khi mẹ chồng
chết, việc nhà cờ đã đến tay, mưu với chồng mở hàng tấm ở Hàng Đào bán. Được ít lâu Thị Lợi giao thiệp với một tên
khách Hàng Ngang, đem ngay lòng tham của, rắp những sự quên nghì, dở lời chênh lệch cùng tên khách, ra dạ bắc
nam với lại chồng. Tên khách kia cũng tham vẻ má hồng, đặm tình ân ái, bởi thế mới đồng tâm hại bạn con! Than ôi!
Nó giết bằng gì? Bằng dao? Hay bằng gươm? Bẩm, chẳng dao, chẳng gươm, chỉ bằng gói thuốc độc. Anh Dương Đức
Nghĩa của con kia, nghĩ mà thương hại, chiều nghe bình văn trong trường quan đốc con về, ăn cơm xong thời buồn
ngủ ngay, sáng mai có tin rằng mất! Chúng nó làm khéo cho đến nỗi, cái án ấy thành ra mất tích, đến năm nay con
mới dò xét được ra thời việc cũ ấy đã nguội lạnh không còn có chút nghi gì trong tâm trí người ta cả. Con không thể
nào mà đi cáo quan được nữa. Một là vì chứng cớ của con ít, hai là vì tiền của chúng nó nhiều. Chúng nó có thể mua
chứng đút tiền, án lên đến cụ lớn, thời con chắc con cũng là thằng vu cáo, mà thù bạn con cũng không có người trả
cho. Nhân con nghe ở nhà nó mách con rằng vợ chồng nó sắp đi chùa Hương để làm chay sám hối, đi thời đi lâu đến
một cữ mới về. Con bèn quyết chí đi theo để liệu cơ báo phục. Không biết Phật tổ ngài thiêng ghét kẻ gian dối mà dun
dủi hay sao, con gặp được dịp rất tốt. Chúng nó đã làm chay xong, chồng thời sốt ruột về, vợ thời mải đồng bóng, nên
con thấy vợ nó hẹn chồng nó cứ về, đến ngày kia nó sẽ về sau. Con mừng quá, thay hình đổi dạng, đi theo ngay thằng
Chiệc, đến bến đò nó xuống thuyền, con cũng xuống thuyền. Trời vừa chiều nhân nó không biết con, con bèn bàn với
nó hai người thuê riêng một cái khoang thuyền trả bội tiền lên để cho rộng đi ra giữa sông thuyền đến quãng sông Tế
Tiêu, con thấy nó đã ngủ say, con mới giở dậy cầm con dao đập một cái vào sống mũi nó rồi con đâm lấy đâm để, nó
giãy giụa thời con cứ kêu rằng: "Chú Khách mê hoảng chưa, ngủ mê mà hoảng lạ". Người trong khoang thuyền ai
cũng tưởng thật, còn mấy đứa bơi chèo thời nó mải làm việc cũng chẳng nghĩ chi đến. Nó giẫy một lúc thời nó chết.
Khoang thuyền ấy ở về đàng lái, cho nên máu chảy ra cũng không có ai biết. Thuyền đi đến chỗ quá phủ Mỹ Đức gần
đến Vân Đình, đấy thuộc về làng Phùng Xá con mới bảo lái đò dừng thuyền lại cho con lên con đi đồng, con liền gọi
con mụ ngồi gần lái lên hỏi, con kể sự tình thằng Khách bất nhân là thế, con vì bạn báo thù là thế. Nó giật mình lo sợ,
con bèn cho nó trăm bạc và xui nó về bảo nhau vứt cái xác ấy xuống sông, rồi đổ mau khách ở đò lên bến đi, không
thời lộ chuyện thời nó rầy rà. Nó xuống thuyền thời con theo con đường men theo bờ sông, đi một quãng được chỗ
khuất lại đổi quần áo mà về chùa Hương đợi đón giết con vợ nó là đứa chính tay đã giết bạn con mà là chồng nó trước
kia. Bởi con vợ nó biết con rõ lắm, nên con phải giả làm kẻ ăn mày bù đầu xõa tóc, bôi nhọ mặt, cắt da chân chảy cả
máu ra để cho được hệt... Tối hôm trước về ngủ ở quán Đìa, sáng dậy ra chợ Đục Khê ăn cơm, đi con đường quán
Ông Thang vào đò Suối, trưa thời đến Thiên Trù, nó còn ở đó, chờ mãi đến nhá nhem tối, nó lên đồng xong mới ra
hàng ăn cơm rồi cùng với bạn lũ nó đi ra bến Hội Xá. Con liền theo bọn nó, ở bến đò Suối bước lên đã gần qua hết
làng Yến Vĩ, con đương bối rối không biết hạ thủ bằng cách nào. Nguyên con ấy nó rất bạo dạn, thích ngộ1 đến đó,
nó bảo các bạn nó cứ đi bến trước để nó rẽ đi đồng đã. Thật là giờ báo phục của con đã đến, con bèn theo nấp ngay ở
dưới gốc búi tre, ước nửa giờ đồng hồ thời nó lên qua đó, con nhìn trước nhìn sau thấy vắng nên con ra liền nắm lấy
tay nó, vốn nó hay trang điểm nhân hôm ấy lại nắng ráo, nên y phục nó chỉnh tề, nó tưởng con là người ở đấy ra cướp
giật, con không để cho kêu, một tay giữ nó, một tay rút dao ra mà bảo nó rằng: "Muốn nghe lời tôi nói thời im, hễ kêu
thời dao này vào cổ ngay". Nó van lạy xin vâng.
- Chị có biết tôi là ai không?
Nó đáp rằng:
- Nghe tiếng thời giống bác Lương Xuân Tín bạn với nhà tôi xưa, song hình thù thời khác, vì cớ gì mà ám ảnh tôi?
Đây, vòng hoa nhẫn hột của tôi, muốn lấy hết đi tôi cũng xin vâng.
- Không, tao đây không phải là giết người lấy của. ừ, tao chính là Lương Xuân Tín, phen này nguyện có trời cao làm
chứng, tôi xin báo thù cho anh Dương Đức Nghĩa đây. Hỡi Dương Đức Nghĩa ơi, anh đến ngày nay mới thực là an
giấc ở dưới suối vàng không còn ân hận! Này, mày giết chồng trước đi theo thằng Khách, nay thằng Khách cũng đã
chết trong tay tao rồi, thôi bụng cá là mả thằng Ngô, đây thời là mồ con đĩ...

1. Vừa lúc.

Nói đến đây con e dùng dằng lâu thời lỡ, bụng con đã thấy rợn, con liền đâm mạnh một nhát vào cổ, nó kêu đánh "ức"
một cái thời ngã, con lại sợ chưa chết liền rút dao đâm mấy nhát rồi cắm vào cạnh sườn, vừa xong thời chợt nghe có
tiếng người rủ rỉ với nhau trên con đường quán Đìa, con liền gạt nó vào búi tre rồi lẩn vào sau cái ruộng dâu gần đấy,
nhìn ra thấy có hai người, quần áo trắng đi xuống ruộng mạ. Con lượn ra quán Đìa lấy những bị gậy áo tơi rồi qua cầu
Hạ Đoạn đi một mạch. Đến chợ Sêu, người thấy mệt bèn ra bến tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo mới vào hàng ăn quà,
nghỉ một lúc lâu đến quá nửa đêm thời đi. Ôi! Tội con thật là tội, song lòng con rất thỏa lòng, con nghe rằng nghĩa bè
bạn là một đạo lớn trong nhân luân, trong Kinh Lễ có nói: "Bằng hữu chi thù bất dữ đồng quốc" (Thù bè bạn không
cho nó ở cùng một nước với mình). Thánh nhân đã dạy như thế, nghĩa làm người thời phải có nhân luân, giống người
mà hơn giống vật chỉ có thế, nếu không có nhân luân thời thà chết đi còn hơn. Khi bạn con sống ước hẹn những cưu
nhau trong lúc nguy hiểm, thương nhau trong lúc nghèo nàn... Nếu mà nay quên thời là "thất tín"; bạn chết ở trong tay
kẻ hung ác nếu mà không báo thù cho thời là "bất nghĩa"; sợ đeo tội giết người nếu mà không tiết được cái oán hận
cho bạn ở dưới cửu tuyền thời là "vô hiệp" giết người nếu mà bỏ trốn thời là "vô dũng"; mình làm nên tội nếu để cho
kẻ khác phải mang thời là "bất nhân", làm điều phi pháp để lụy đến gia đình, tộc thuộc thời là "vô trí"; đã không có
tín, nghĩa, hiệp, dũng, nhân, trí sao cho được làm người quân tử. Con mà chậm đến đây chỉ còn chút tình trong gia tộc,
nay thu xếp đã xong, xin đem mình chịu tội trước cửa cụ lớn.
Tạp chí Nam phong,
số 28 - Tháng 10-1919
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com